Những giai điệu bất hủ về ngày giải phóng Thủ đô

Hà Nội, mảnh đất thủ đô ngàn năm văn hiến, mang trong mình kí ức hào hùng lịch sử dựng nước và giữ nước của bao thế hệ ông cha, là nguồn cảm hứng bất tận, dồi dào cho người nhạc sĩ sáng tác.

Đã có hàng trăm ca khúc viết về Hà Nội từ những ngày đầu khói lửa của cuộc chiến tranh cho đến khi đất nước thanh bình lặng im tiếng súng: “Hà Nội niềm tin và hy vọng”, “Hà Nội những bản tình ca”, “Hà Nội linh thiêng và hào hoa”, “Hướng về Hà Nội”, “Sẽ về thủ đô”, “Tiếng nói Hà Nội”,...

Quả thật, mỗi nhạc phẩm viết về Hà Nội đều có sắc thái riêng. Nhưng có hai nhạc phẩm của hai con người tài hoa đặc biệt xuất chúng hơn cả đó là “Tiến về Hà Nội” của nhạc sĩ Văn Cao, và bài “Người Hà Nội” của thi sĩ, nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi. Cả hai ca khúc đặc biệt này đều được viết trước ngày giải phóng thủ đô 10-10-1954, như một dự cảm về ngày chiến thắng, ghi dấu lịch sử trên mảnh đất thủ đô thân yêu.

Ca khúc “Người Hà Nội” đã được các nhạc sĩ đồng thuận bỏ phiếu là bài hát hay nhất về Hà Nội, còn nhạc phẩm “Tiến về Hà Nội” của nhạc sĩ Văn Cao lại có một vị thế riêng, như hạt ngọc tinh tuý, chắt lọc đặc biệt hiếm hoi trong những cơn mưa ca khúc về Hà Nội.

“Người Hà Nội” của danh nhân văn hoá Nguyễn Đình Thi

Con đường mang tên danh nhân văn hóa Nguyễn Đình Thi chạy dài ven Hồ Tây lộng gió với hàng liễu rủ xanh mát. Mỗi lần qua đây, giai điệu bài hát “Người Hà Nội” lại vang lên linh thiêng, hùng tráng trong tôi: “Đây Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây/ Đây lắng hồn núi sông ngàn năm/ Đây Thăng Long, đây Đông Đô, đây Hà Nội, Hà Nội mến yêu/…”.

Nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi.
Nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi.

Trải qua bao năm tháng mà bài hát vẫn có sức sống mãnh liệt trong lòng công chúng yêu âm nhạc. Nhạc sĩ Nguyễn Cường đã từng nhận định: “Tất cả những bài hát của chúng tôi thì khi chúng tôi mất đi thì có thể cũng thôi, nhưng riêng bài hát “Người Hà Nội” của anh Nguyễn Đình Thi, Hà Nội còn thì bài hát vẫn còn mãi với thời gian”.

Có lẽ vì thi sĩ, nhạc sĩ tài hoa này xuất thân là một người con Hà Nội, quê gốc của ông ở làng Vũ Thạch, nay là phố Hàng Trống, một trong 36 phố phường của mảnh đất thủ đô. Mảnh đất quê hương ấy đã cho ông cách cảm, cách nghĩ để rồi bật ra những nốt nhạc trầm bổng, những lời ca tuyệt đẹp. Trong lời ca ấy có “Bóng Tháp Rùa thân mật êm ấm lòng…”, có “Tíu tít gánh gồng đây Ô Chợ Dừa, kia Ô Cầu Dền làn áo xanh nâu Hà Nội tươi thắm…/ Quanh co chen quanh rộn ràng Đồng Xuân, xanh tươi bát ngát Tây Hồ, Hàng Đào ríu rít Hàng Đường, Hàng Bạc, Hàng Gai…”.

Bài hát có hoàn cảnh xuất xứ ra đời thật đặc biệt. Mùa thu năm 1947, Nguyễn Đình Thi lúc này đang là Đại biểu Quốc hội, ông có nhiệm vụ ra vào thành vận động trí thức đi theo kháng chiến.

Trong Hồi kí của mình ông viết: “Bài Người Hà Nội tôi viết đầu năm 1947, dịp gần Tết. Khi đó Hà Nội đang chiến đấu rất quyết liệt. Do công tác, tôi tạt vào làng Khúc Thủy bên bờ sông Nhuệ, đối diện với làng Cự Đà. Bên kia sông là trạm quân y lớn nhất của ta tiếp nhận thương binh từ Hà Nội đưa về. Thời gian ấy, do phân công ở trên, tôi cùng anh Thép Mới, bạn học từ hồi còn ở Trường Bưởi, làm tờ báo Cứu quốc của mặt trận Hà Nội, sau này gọi là Cứu quốc Thủ đô. Tôi rời Hà Nội ra ngoại thành vào đúng đêm 19-12, tức đêm ngày toàn quốc kháng chiến nổ ra tại Hà Nội. Phía sau lưng tiếng súng bắt đầu nổ và một cảnh tượng rất hùng tráng hiện ra, sau này đã xuất hiện trong bài hát: “Hà Nội cháy, khói lửa rợp trời/ Hà Nội hồng ầm ầm rung. Sông Hồng reo…”.

Nhà văn Nguyễn Đình Chính, con trai của ông kể lại kỉ niệm về cha mình: Ngày 19-12-1946, lãnh tụ Hồ Chí Minh phát động cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Tại thủ đô Hà Nội, chiến lũy được dựng lên ở nhiều đường phố và những đội quân cảm tử đã sẵn sàng đánh giáp lá cà với địch. Cả thủ đô ngập trong biển lửa. Nếu như ở Hà Nội còn lại những chiến sĩ Trung đoàn Thủ đô quyết tử, những tự vệ thành kiên cường bám trụ, thì những người dân thường theo kháng chiến lại tay gồng tay gánh đi tản cư.

Nhà văn Nguyễn Đình Chính nhớ lại một buổi hai cha con ngồi trò chuyện với nhau, con hỏi cha về bài hát: “Người Hà Nội” và đã biết được một sự thực vô cùng đặc biệt: Tại thời điểm sáng tác bài “Người Hà Nội”, thực chất cha anh chỉ biết chơi thành thạo đàn măngđôlin còn piano thì chỉ biết mổ cò vài nốt. “Vậy thì làm sao lại có “Người Hà Nội” thưa cha?”, nhà văn Nguyễn Đình Chính ngạc nhiên hỏi cha mình, người cha mới kể lại sự tình cho con trai nghe.

Mùa thu Hà Nội.
Mùa thu Hà Nội.

Một buổi tối, trong một ngôi nhà ở làng Khúc Thủy, Nguyễn Đình Thi và cô Nghĩa là em vợ (cô Nghĩa cùng tản cư theo gia đình) thấy chiếc đàn piano của người dân khi đi tản cư đã bỏ lại, vì không thể mang theo.

Hình ảnh của Hà Nội tan hoang bị giày xéo của chiến tranh, rồi những người con đã anh dũng chiến đấu, đội tự vệ thành, đội cảm tử quân, những chàng trai, cô gái của các nhà máy, phân xưởng đã đứng lên để bảo vệ từng tấc đất Hà Nội. Hà Nội như một bức tranh sống động đầy màu sắc của bi thương và oai hùng, từng địa danh, từng góc phố thân quen hiện ra đẹp thân thương đến nao lòng khiến Nguyễn Đình Thi dạt dào xúc động.

Cô Nghĩa là một thanh nữ hiểu âm luật, thành thạo từng nốt nhạc piano, mang trái tim mộng mơ đa cảm. Nguyễn Đình Thi vốn hát rất hay, cộng thêm mạch cảm xúc ngút ngàn nên những ca từ như dòng thác nối tiếp nhau. Ông hát đến đâu, cô Nghĩa lấy giấy bút ghi lại đến đó.

Đến khi Nguyễn Đình Thi đã thuộc lòng bài hát, cô Nghĩa lại ngồi xuống đệm đàn cho ông hát. Hai anh em đều lớn lên trên mảnh đất này, để nhớ, để yêu từng địa danh, từng nắm đất. Sự cộng hưởng tình yêu đất nước và con người Hà Nội đã làm nên điều kì diệu và bài hát “Người Hà Nội” được ra đời chỉ trong một buổi tối lãng mạn, nên thơ trong căn nhà tản cư như thế.

Lúc đấy Nguyễn Đình Thi mới 23 tuổi, và cô Nghĩa em vợ vừa tròn 17 tuổi. Nhà văn Nguyễn Đình Chính kể: Gia đình bên ngoại, bà ngoại của nhà văn Nguyễn Đình Chính là một gia đình tư sản khá giả, nên cô Nghĩa được học đàn piano từ bé, cô đẹp nức tiếng và chơi đàn rất hay. Bài hát do cha anh hát, còn ghi chép ra nhạc là do người dì ruột của cô Nghĩa ghi. Bài hát ra đời năm 1947, khi cô Nghĩa mới 17 tuổi.

Nhưng chỉ hai năm sau, năm 1949, cô vừa tròn 19 tuổi tham gia du kích và bị mất trong kháng chiến vì căn bệnh thương hàn. Có lẽ cô không thể ngờ rằng bài hát hai anh em sáng tác trong căn nhà tản cư năm đó tại ngôi làng Khúc Thuỷ lại vượt không gian và thời gian có sức sống trường tồn và lâu bền như vậy.

Năm 1952, liên hoan âm nhạc tại Beclin, người chỉ huy của dàn nhạc đột nhiên bị đau bụng dữ dội, khiến ông không thể nào chỉ huy dàn nhạc. Nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi lúc đó đã lên sân khấu chỉ huy dàn nhạc khi ca khúc “Người Hà Nội” cất lên tại sân khấu Beclin. Cho đến nay đã đi qua cả một chặng đường dài của lịch sử, bài ca “Người Hà Nội” của Nguyễn Đình Thi là một bản nhạc hào hùng và bi tráng nhất vẽ nên bức tranh toàn cảnh về một Hà Nội để yêu, để nhớ ngày toàn quốc kháng chiến.

“Tiến về Hà Nội” của nhạc sĩ Văn Cao

Có người đã từng ghi: “Nếu như “Người Hà Nội” là lời thề son sắt buổi lên đường thì “Tiến về Hà Nội” được nhạc sỹ Văn Cao sáng tác năm 1949 đã miêu tả sinh động bằng âm nhạc cảnh tượng đoàn quân giải phóng tiến về thủ đô ngày chiến thắng”.

Nhạc sĩ Văn Cao.
Nhạc sĩ Văn Cao.

Quả không sai, “Tiến về Hà Nội” với khí thế hào hùng, sôi nổi, đầy phấn chấn, reo vui của lòng người và của âm nhạc như để viết riêng cho ngày giải phóng thủ đô 10-10-1954: “Trùng trùng quân đi như sóng/ Lớp lớp đoàn quân tiến về/ Chúng ta đi nghe vui lúc quân thù đầu hàng, cờ ngày nào tung bay trên phố…/ Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về/ Như đài hoa đón mừng nở năm cánh đào…”.

Người nghệ sĩ, nhạc sĩ dường như lúc nào cũng có một dự cảm trước, bài hát “Tiến về Hà Nội” là khúc ca khải hoàn chiến thắng, hình ảnh chân thực, sống động nhất về ngày giải phóng thủ đô 10-10-1954. Có điều đặc biệt, ca khúc này không phải ra đời tại thời điểm lịch sử quan trọng đó, mà được người nhạc sĩ tài hoa sáng tác trước đó 5 năm.

Lúc còn sống, nhạc sĩ Văn Cao đã từng chia sẻ về hoàn cảnh xuất xứ của ca khúc này: “Khi về tới chợ Đại, chúng tôi phải đến gặp ngay đồng chí Lương Xuân Nhị và đồng chí Tử Phác, lúc đó là cán bộ lãnh đạo Chi hội Văn nghệ Liên khu 3. Riêng phần nhiệm vụ công tác của tôi là phải sáng tác một bài hát cho Hà Nội. Tôi còn nhớ trong một buổi họp chi bộ ở Liên khu 3 tôi đã hứa với các đồng chí Khuất Duy Tiến và đồng chí Lê Quang Đạo là tôi sẽ viết một ca khúc về Hà Nội. Tối hôm ấy, tôi đã cùng ăn cơm với anh Lê Quang Đạo. Anh Đạo đã nắm chặt tay tôi và nói: “Những ca khúc của cậu làm tôi rất xúc động. Nhất là bài “Làng tôi” và bài “Trường ca sông Lô”. Nét nhạc và lời ca thơ mộng lắm! Làm mình rất nhớ Việt Bắc. Dù sao thì chất lãng mạn của cậu vẫn không thay đổi…

Nhà lãnh đạo còn dặn nhạc sĩ Văn Cao: “Nếu cậu yêu Hà Nội, nhớ Hà Nội thì hãy sáng tác cho Hà Nội một bài hát vừa hùng tráng vừa trữ tình nhé”. Khi nhạc sĩ Văn Cao ra về, nhà lãnh đạo và người nhạc sĩ tài hoa đi cùng nhau trên một đoạn đường dài, chính câu nói hôm ấy của người con cách mạng: “Khẩu hiệu của Trung ương là tất cả cho tổng phản công nhưng nếu có một bài hát cho Hà Nội đầy tình cảm cũng là mơ ước  của những người dân thủ đô” đã khơi nguồn cảm hứng cho nhạc sĩ Văn Cao.

Hoạ sĩ Văn Thao, con trai trưởng của cố nhạc sĩ Văn Cao hồi tưởng về ca khúc của cha mình. Ngay tối hôm nhận được lời nói đầy khích lệ của người lãnh đạo đã tiếp lửa cho cha anh, nhạc sĩ Văn Cao đã nung nấu viết một ca khúc cho Hà Nội. Trong vòng hai tuần sau đó, ông đã hoàn thành xong ca khúc “Tiến về Hà Nội”. Bài hát ra đời trong hoàn cảnh chiến tranh khói lửa mùa xuân năm 1949. Cuối năm 1949, thực dân Pháp mở trận càn lớn ở Hà Nam Ninh.

Nhạc sĩ Văn Cao cùng một số các nhạc sĩ khác phải rút sang Thái Bình. Chính trên mảnh đất quê lúa, có chị hai Năm Tấn này, bài hát “Tiến về Hà Nội” được vang lên. Có lẽ, sự mong mỏi về một ngày Hà Nội được thanh bình và độc lập nên ca từ đầy sức truyền tải thông điệp, khí thế, mạnh mẽ và vang rền có sức lan toả nên nhiều người yêu thích đến vậy. Tuy nhiên, hoạ sĩ Văn Thao cho biết thời điểm chiến tranh diễn ra khốc liệt đó, bài hát dường như chưa thích hợp với bối cảnh lịch sử nên “bị cất vào kho”, bài hát chỉ thật sự được bung toả vào đúng ngày giải phóng thủ đô 10-10-1954.

Có lẽ, không có ca khúc cách mạng nào lại hợp khi cất lên tiếng hát vào ngày giải phóng thủ đô như bài “Tiến về Hà Nội” của nhạc sĩ Văn Cao. Bài hát tuy được viết trước ngày thủ đô giải phóng 5 năm, nhưng người nhạc sĩ như nhìn thấu trước tất cả. Với dòng suối trữ tình lãng mạn lại vừa hào hùng, khí thế hiên ngang và vui mừng của đoàn quân chiến thắng tiến vào giải phóng thủ đô: “Năm cửa ô đón mừng đoàn quân tiến về. Như đài hoa đón mừng nở năm cánh đào. Chảy dòng sương sớm long lanh…”, “Tiến về Hà Nội” như bản anh hùng ca bất tử trong tượng đài âm nhạc của thủ đô yêu dấu hôm nay và mai sau.

Trần Mỹ Hiền

Các tin khác

Khơi thông nguồn lực từ dữ liệu văn hóa

Khơi thông nguồn lực từ dữ liệu văn hóa

Việt Nam đã tạo lập ngày càng nhiều dữ liệu số về di sản, nhưng phần lớn vẫn phân tán, thiếu liên thông và chưa được khai thác như một nguồn lực. Chuyển từ những bản sao số rời rạc sang hạ tầng tri thức dùng chung vì thế là điều kiện để di sản tiếp tục tạo ra giá trị cho nghiên cứu, giáo dục, sáng tạo và cộng đồng.

Vì sao Mỹ ra tay cứu đồng yen Nhật Bản?

Vì sao Mỹ ra tay cứu đồng yen Nhật Bản?

Trước đà lao dốc của đồng yen, Mỹ đã ra tay hỗ trợ Nhật Bản sau gần 3 thập kỷ, đánh dấu động thái phối hợp hiếm hoi giữa lúc những tác động từ tỷ giá ngày càng lan rộng.

Các nghệ sĩ trẻ với tư duy mới mẻ mang đến sức sống mới cho làng nghề.

Tái sinh di sản làng nghề

Hà Nội sở hữu hơn 1.300 làng nghề. Thế nhưng, nhiều làng nghề đang đứng trước nguy cơ mai một vì thiếu thị trường, thiếu người kế nghiệp và thiếu không gian để kể câu chuyện của mình. Trước thềm Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026, những người trẻ đã chọn làng nghề làm chất liệu sáng tạo, mở ra một cách tiếp cận mới, tái sinh di sản làng nghề…

Khi cổ vật thành “mồi” của kẻ gian

Khi cổ vật thành “mồi” của kẻ gian

Những pho tượng, sắc phong trong đình chùa đến những cấu kiện nguyên gốc của các công trình cổ, nhiều di sản đang trở thành mục tiêu của nạn trộm cắp ngày càng tinh vi, táo tợn. Mỗi cổ vật bị thất lạc không chỉ là mất đi một tài sản quý giá, mà còn là sự đứt gãy một phần ký ức lịch sử, văn hóa của dân tộc.

Từ nâng tầm quản trị đến khát vọng chuyên nghiệp hóa

Từ nâng tầm quản trị đến khát vọng chuyên nghiệp hóa

Trước đòi hỏi của kỷ nguyên phát triển mới, thể thao Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt chiến lược: chuyển đổi mạnh mẽ từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại và thương mại hóa chuyên nghiệp. Nâng cao năng lực tổ chức sự kiện không chỉ là thước đo điều hành, mà còn là chìa khóa mở ra không gian kinh tế thể thao đầy tiềm năng.

Tuân thủ nguyên tác hay dũng cảm bước qua?

Tuân thủ nguyên tác hay dũng cảm bước qua?

Khi “The Odyssey” - bộ phim điện ảnh lấy cảm hứng từ sử thi kinh điển của Homer công bố dàn diễn viên, lựa chọn của đạo diễn Christopher Nolan tựa như “quả táo bất hòa”, tạo ra những luồng tranh luận sôi nổi, độc giả lan tỏa những bài viết phân tích, so sánh với nguyên tác sử thi. Cùng thời gian, điện ảnh Việt Nam dậy sóng khi công bố Tăng Thanh Hà vào vai Nam Phương Hoàng hậu. Tại sao đạo diễn lại thích đảo lộn những hình mẫu vốn đã quá đỗi quen thuộc và thành công từ nguyên tác? Liệu việc tuân thủ tuyệt đối tác phẩm gốc có phải “lá bùa hộ mệnh”, hay sự phóng tác dũng cảm mới giúp tác phẩm đến gần hơn với thế hệ khán giả mới?

Cần hệ sinh thái sáng tạo cho họa sĩ trẻ

Cần hệ sinh thái sáng tạo cho họa sĩ trẻ

Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ 8 năm 2026 đang diễn ra tại Hà Nội, mở ra một không gian đối thoại đa chiều của nghệ thuật đương đại, phản ánh tiếng nói của những người trẻ trước cuộc sống và những thay đổi của thời cuộc. Tuy nhiên, hơn cả một kỳ liên hoan, mỹ thuật trẻ cần có một chiến lược phát triển dài hạn trong thời gian tới.

Mỹ thâm hụt ngân sách do hoàn thuế nhập khẩu

Mỹ thâm hụt ngân sách do hoàn thuế nhập khẩu

Sau khi Tòa án Tối cao bác bỏ cơ sở pháp lý của nhiều mức thuế quan, Chính phủ Mỹ phải hoàn hàng chục tỷ USD cho doanh nghiệp nhập khẩu, gây ra hậu quả ngân sách tháng 6/2026 thâm hụt 120 tỷ USD.

Hình tượng người chiến sĩ - từ nguyên mẫu đến màn ảnh

Hình tượng người chiến sĩ - từ nguyên mẫu đến màn ảnh

Thời gian gần đây, nhiều bộ phim có chất liệu từ những chuyên án và nguyên mẫu có thật trong lực lượng CAND đã được đưa vào sản xuất. Những tác phẩm điện ảnh ấy không chỉ mang đến những câu chuyện chân thực, giàu tính nhân văn, tái hiện sinh động cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh Tổ quốc mà còn khắc họa bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh của các chiến sĩ Công an trong nhiều giai đoạn lịch sử.

Đào tạo trẻ - nền móng bền vững của Thể thao CAND

Đào tạo trẻ - nền móng bền vững của Thể thao CAND

Trong thể thao thành tích cao, mỗi tấm huy chương không chỉ được quyết định ở khoảnh khắc thi đấu, mà được vun đắp từ rất sớm: từ khâu phát hiện năng khiếu, lựa chọn môn phù hợp, xây dựng giáo án huấn luyện, tạo dựng môi trường rèn luyện cho đến bồi dưỡng bản lĩnh qua từng giải đấu. Với Thể thao Công an nhân dân (CAND), công tác đào tạo trẻ vì thế luôn mang ý nghĩa đặc biệt. Đó không chỉ là nhiệm vụ chuẩn bị lực lượng kế cận cho thể thao CAND, mà còn là sự đóng góp thiết thực vào thành tích chung của thể thao Việt Nam.

Chuỗi cung ứng và mặt trận an ninh mới

Chuỗi cung ứng và mặt trận an ninh mới

Đầu năm 2026, khi xung đột Mỹ - Iran đẩy eo biển Hormuz vào tình trạng gián đoạn nghiêm trọng, nỗi lo của thế giới không chỉ là giá dầu, mà còn là chip bán dẫn.

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Những tấm thân vùi sâu dưới đất, nằm yên lặng hơn nửa thế kỷ, có những tình yêu không được viết bằng đám cưới, mà được viết bằng cả một đời chờ đợi. Đó là những thước phim chân thực và sống động nhất đã và đang diễn ra trong “chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm hài cốt liệt sĩ.

Tiệm cận thế giới để vươn xa

Tiệm cận thế giới để vươn xa

Trong những năm gần đây, điện ảnh Việt Nam ghi nhận bước tiến rõ rệt cả về quy mô thị trường lẫn năng lực sản xuất. Chất lượng hình ảnh, thiết kế mỹ thuật, diễn xuất hay tổ chức sản xuất ngày càng tiệm cận những chuẩn mực mới. Tuy nhiên, để một bộ phim không chỉ thành công trong nước mà còn có thể bước ra các liên hoan phim, thị trường phát hành quốc tế, điểm nghẽn lớn nhất vẫn nằm ở kịch bản. Những câu chuyện giàu bản sắc Việt Nam cần được kể bằng một ngôn ngữ điện ảnh đủ sức tạo đồng cảm với khán giả toàn cầu.

"0% lãi suất" và góc khuất ứng lương qua app

"0% lãi suất" và góc khuất ứng lương qua app

Chỉ cần vài thao tác không quá 10 phút trên điện thoại, người lao động có thể nhận trước tiền lương nhờ những lời quảng cáo "0% lãi suất", "giải ngân trong 5 phút". Nhưng phía sau sự tiện lợi ấy là các khoản phí phát sinh mà người lao động chỉ biết khi đã nhận tiền và khả năng vi phạm pháp luật, nguy cơ phụ thuộc tài chính và nếu không tỉnh táo thì rất khó để phân biệt giữa dịch vụ ứng lương với hoạt động cấp tín dụng.

Khi nắng nóng có thể làm “bốc hơi” GDP

Khi nắng nóng có thể làm “bốc hơi” GDP

Những đợt nắng nóng cực đoan đang hoành hành tại châu Âu không chỉ là vấn đề thời tiết hay môi trường, mà ngày càng hiện rõ như một thách thức kinh tế, đe dọa tới tốc độ tăng trưởng GDP và gây ra khó khăn cho mọi mặt đời sống.