Những cuốn sách thiếu bàn tay biên tập

“Người Việt nghiên cứu” với 308 trang nội dung, khổ 13 x 19cm, chia làm hai phần: Phần 1 - Các tiểu luận nghiên cứu (Nghiên cứu lịch sử, Nghiên cứu về dân tộc, Nghiên cứu về cuộc chiến tranh Việt Nam, Nghiên cứu về quốc tế, Nghiên cứu triết học); Phần 2 - Trang văn học (Lý luận văn học, Thơ và tùy bút, Tùy bút)...

Viết ẩu không kiểm chứng tư liệu

Cuốn “Người Việt nghiên cứu” của tác giả Trần Quốc Việt, Nhà xuất bản Hội Nhà văn phát hành quý I năm 2015. Cứ theo “Lời tựa” được viết ở trang 5 cuốn sách, tác giả thổ lộ như sau: “Tại sao tôi viết quyển sách này? Tôi được đi nhiều, nghiên cứu nhiều, là giáo viên kiêm chức nhiều năm; Nghỉ ngơi mà không tổng kết lại cho cán bộ mình, anh em bạn bè mình, con cháu mình, quả là phí phạm”.

“Người Việt nghiên cứu” với 308 trang nội dung, khổ 13 x 19cm, chia làm hai phần: Phần 1 - Các tiểu luận nghiên cứu (Nghiên cứu lịch sử, Nghiên cứu về dân tộc, Nghiên cứu về cuộc chiến tranh Việt Nam, Nghiên cứu về quốc tế, Nghiên cứu triết học); Phần 2 - Trang văn học (Lý luận văn học, Thơ và tùy bút, Tùy bút).

Đánh giá tổng thể cuốn sách thì đây là những bài viết trên blog Bantroik5 của tác giả được tập hợp lại. Viết blog gần như dạng vui chơi, nhớ gì viết đấy, không kiểm chứng tư liệu kỹ càng, đến khi đưa vào sách in cũng không biên tập. Nếu so sánh như tác giả viết giới thiệu về cuốn hồi ký của cụ thân sinh mình trong sách này “chỉ có gần 100 trang mà tới hơn 300 lỗi, dễ gây hiểu lầm” (trang 232) thì “Người Việt nghiên cứu” lỗi cũng ở cấp số nhân của 308 trang nội dung.

Đến như Lời tựa mà còn chình ình ngay cái lỗi “hạnh phúc” thành “hạnh phíc” thì đủ biết độ cẩu thả của những người làm sách đến thế nào. Dưới đây, chúng tôi xin dẫn 2 ví dụ khác để chứng minh tác giả viết ẩu, không hề kiểm chứng tư liệu.

Những cuốn sách được đề cập trong bài viết.
Những cuốn sách được đề cập trong bài viết.

Trong bài “Cụ Phó bảng và đám bèo tây”, tác giả Trần Quốc Việt viết: “Cụ Bùi Bằng Đoàn, bố Bùi Tín là một trí thức, nguyên là Thượng thư Bộ Hình, sau CMT8 đi theo cách mạng làm Uỷ viên thường vụ Quốc hội và bị biệt kích Pháp giết, cụ ấy là một anh hùng” (trang 81).

Ông Trần Quốc Việt đã nhầm cụ Bùi Bằng Đoàn (1889 - 1955) sang cụ Nguyễn Văn Tố (1889 - 1947). Cụ Nguyễn Văn Tố nguyên Trưởng ban Thường trực Quốc hội (tháng 3/1946 đến tháng 11/1946), Bộ trưởng Không giữ Bộ nào bị Pháp bắt tại Bắc Kạn trong chiến dịch Thu Đông 1947 và đã hy sinh. Còn cụ Bùi Bằng Đoàn là Trưởng ban Thường trực Quốc hội (tương tự chức Chủ tịch Quốc hội hiện nay) từ tháng 11/1946 đến khi cụ tạ thế ngày 13/4/1955.

Trang 85 sách này, tác giả viết tiếp: “Cụ Vũ Đình Huỳnh là thân sinh Vũ Thư Hiên; cụ là một trí thức Công giáo, học ở Pháp, cùng bác Trần Đại Nghĩa (bố bạn Trần Dũng Triệu) theo Bác Hồ đi tàu thủy về tham gia Cách mạng. Cụ Huỳnh là một trong những thư kí cho Bác Hồ từ 1945 - 1947”.

Ông Trần Quốc Việt tiếp tục nhầm. Cụ Vũ Đình Huỳnh (1907 - 1990) quê gốc ở Nam Định là thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Còn người theo Chủ tịch Hồ Chí Minh từ Pháp về nước năm 1946 (cùng kỹ sư Trần Đại Nghĩa) đó là kỹ sư Võ Đình Quỳnh (1917 - 2010) quê gốc ở Quảng Ngãi.

Lỗi... cô Tuyết ngây thơ

Cuốn “Hà Nội xưa và nay” (ký) của nhà báo Bạch Diện - Nguyễn Văn Cư, Nhà xuất bản Hội Nhà văn phát hành tháng 10 năm 2015. Cuốn sách 400 trang, khổ 14,5 x 20,5cm do Võ Việt Dũng tổ chức bản thảo, Thái Thành Đức Phổ nhuận sắc. Về biên tập thì cuốn này có những lỗi sai rất… cô Tuyết ngây thơ. Đó là trang 9 giới thiệu nhà báo Bạch Diện - Nguyễn Văn Cư có 4 người con gái. Ba người là Nguyễn Thị Bích Thuận, Nguyễn Thị Thu Yến, Nguyễn Thị Ngọc Hồ, đến người con gái thứ tư tên là Nguyễn… Văn Kim. Nội dung trang 334 được in lại… hai lần.

Về phần nội dung, sách do tác giả Bạch Diện viết có quá nhiều điều sai với lịch sử. Trang 15 có câu: “Chùa Một Cột xây năm 1049 dưới triều vua Lý Thánh Tông được coi là một kỳ quan của Hà Nội”. Chùa này do vua Lý Thái Tông (1028 - 1054), cha của vua Lý Thánh Tông (1054 - 1072) xây dựng mới đúng. Điều này các sách chính sử như “Đại Việt sử ký toàn thư” đã viết rất rõ. Đây là một chi tiết thông sử quen thuộc mà còn sai.

Vẫn trang 15, viết về nhà đại bái của di tích Văn Miếu - Quốc Tử Giám “có treo một bức hoành phi sơn son thếp vàng bốn chữ “Vạn thế sự biểu” (nghĩa là Bậc thầy tiêu biểu của muôn đời), do chính bút tích của vua Càn Long nhà Thanh cung tiến vào Văn Miếu dưới triều Nguyễn”. Bốn chữ Vạn thế sư biểu, chữ sư (người thầy) đã có thêm dấu nặng, thành chữ sự, là sai.

Còn nếu cho rằng bức hoành phi bốn chữ “Vạn thế sự biểu” do chính vua Càn Long nhà Thanh cung tiến vào Văn Miếu dưới triều Nguyễn thì đó là chuyện… Trạng Quỳnh. Bởi vì dưới thời phong kiến, các triều đại Trung Quốc luôn coi mình là thiên triều, các triều đại phong kiến Việt Nam chỉ là thuộc quốc, vẫn phải sang triều cống hàng năm.

Hoàng đế của thiên triều chỉ có ban tặng chứ không có chuyện cung tiến cho thuộc quốc. Nhà vua đứng trên bách thần. Rõ ràng hơn nữa là, vua Càn Long nhà Thanh mất năm 1799 thọ 89 tuổi, còn nhà Nguyễn thì phải đến năm 1802 mới ra đời. Không lẽ ở dưới âm phủ 3 năm rồi vua Càn Long còn “cung tiến” được chữ cho Văn Miếu?

Trang 249 đổi họ cụ Bảng Bí - tức Phó bảng Hoàng Tăng Bí - thành Đặng Hoàng Bí. Đến trang 251 lại có câu: “Riêng cụ Bảng Hoàng Tăng Bí là cháu họ ngoại cụ Nguyễn Tư Giản - một vị đại thần dưới triều Tự Đức - được một số quan lại bạn đồng liêu của cụ Tư Giản xin cho cụ Bảng Bí không phải đi đày Côn Đảo mà phải an trí ở Huế (đến năm 1926, cụ Bảng Bí mới được trở về Hà Nội)”.

Các lỗi cụ thể trong cuốn sách ''Người Việt''.
Các lỗi cụ thể trong cuốn sách ''Người Việt''.

Trong các sách viết về tiểu sử cụ Hoàng Tăng Bí và phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục đều viết rõ, cụ Hoàng Tăng Bí không phải đi đày ra Côn Đảo là vì bố vợ lúc đó là cụ Cao Xuân Dục là đại thần triều đình bảo lãnh cho.

Những chuyện lịch sử phong kiến xa xôi xin tạm dừng, tôi muốn nhắc đến những sự kiện lịch sử Việt Nam hiện đại cũng cho thấy người biên tập quả thật thiếu kiến thức lịch sử (nếu có đọc biên tập). Trang 331 hai lần nhắc về sông Kỳ Mạt Phục. “Năm 1945, nước sông Kỳ Mạt Phục lên to, Hà Nội nước lên đến mức báo động số 3”. Không rõ sông Kỳ Mạt Phục ở Hà Nội là sông nào? Chúng tôi mong nhận được phản hồi của Nhà xuất bản Hội Nhà văn.

Còn tiếp đó liên tục các sự kiện lịch sử viết sai: ngày 22-8-1945 Chính phủ lâm thời thành lập do Cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, ông Võ Nguyên Giáp giữ Bộ Quốc phòng; ngày 24-8-1945, Bảo Đại tuyên bố thoái vị; bản Tuyên ngôn Độc lập do Hồ Chủ tịch khởi thảo tại số nhà 49 phố Hàng Ngang…

Những sự kiện này phải sửa lại cho đúng như sau: Ngày 28-8-1945 Chính phủ lâm thời thành lập, ông Võ Nguyên Giáp giữ Bộ Nội vụ; ngày 30-8-1945, Bảo Đại tuyên bố thoái vị; bản Tuyên ngôn Độc lập khởi thảo tại số nhà 48 phố Hàng Ngang…

Vẫn thiếu bàn tay biên tập

Cuốn “Nhà Triệu mấy vấn đề lịch sử” do Trương Sỹ Hùng, Nguyễn Khắc Mai (đồng chủ biên), gần 420 trang sách khổ 14,5 x 20,5cm được Nhà xuất bản Hội Nhà văn phát hành tháng 7 năm 2017. “Lời mở sách” được người đồng chủ biên Nguyễn Khắc Mai viết: “cảm ơn nhà xuất bản Hội Nhà Văn, đã hợp tác và dầy công biên tập để cuốn sách được phát hành” (trang 13).

Nhưng đọc ngay vài dòng bên dưới Lời mở sách đã thấy lỗi trình bày vì dính chữ. Thậm chí có một câu này rất hài hước: “công trình của nhóm tác giả là những nhà nghiên cứu khoa học chuyển ngành”. Chuyển ngành là sao? Phải chăng ở đây thừa mất dấu hỏi? Đây cũng là câu hỏi chúng tôi muốn nêu ra về sự dày công biên tập của đơn vị cấp phép xuất bản.

Lỗi kỹ thuật dính chữ rất nhiều trong bài viết “Vấn đề Triệu Đà” của GS Kiều Thu Hoạch, bài “Triệu Đà trong Sử học Việt Nam thế kỷ XX” của Trương Sỹ Hùng… và nhiều lỗi khác. Riêng nhà nghiên cứu Lê Kim Thuyên (Vĩnh Phúc) sẽ bị mất quyền tác giả bài “Tể tướng Lữ Gia” vì tên ông đã bị sửa thành Lê… Lim Thuyên (trang 389).

Gần đây nhất, cuốn “Những kỷ niệm sâu sắc”, hồi ký nhiều tác giả, do Tuấn Long chủ biên, kỷ niệm 70 năm Đoàn Văn công Quân khu Việt Bắc - Đoàn Văn Công Quân khu I (31/10/1947 - 31/10/2017), in xong và nộp lưu chiểu quý 4 năm 2017 cũng cho thấy thiếu bàn tay người biên tập.

Kiều Mai Sơn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).