Nhìn lại những trận bão kinh hoàng trong lịch sử

Trong chuỗi chiều dài lịch sử của đất nước, nhà Nguyễn trị vì đất nước Việt Nam từ năm 1802 đến 1945. Trong khoảng thời gian này, đã có hàng trăm trận bão càn qua, không chỉ ở miền Trung. Có những trận bão làm chết đến hàng nghìn người, sụp đổ hàng vạn ngôi nhà ở khắp đất nước ta.

Hơn 5.500 người chết trong một trận bão

Từ thời Gia Long đến các vị vua sau này, không năm nào không có bão. Trong bộ Đại Nam thực lục (chính biên) đều có ghi chép về những trận bão đi qua các tỉnh từ Bình Thuận đến các tỉnh phía Bắc, trong đó có nhiều trận bão kinh hoàng, như các trận bão vào những năm Gia Long thứ 10, Minh Mệnh thứ 8, Thiệu Trị thứ 2 (1842), Thiệu Trị thứ 6 (1846), Tự Đức thứ 20 (1867)… Sau này còn có một vài tài liệu viết về trận bão năm Thành Thái năm thứ 16 (1904) và một số trận bão kinh hoàng khác nữa.

Bờ xe nước sông Trà Khúc (Quảng Ngãi), ảnh chụp đầu thế kỷ 20. Khi mùa bão lũ, những guồng xe này sẽ được tháo dỡ, đến tháng Chạp các bờ xe sẽ được lắp lại.
Bờ xe nước sông Trà Khúc (Quảng Ngãi), ảnh chụp đầu thế kỷ 20. Khi mùa bão lũ, những guồng xe này sẽ được tháo dỡ, đến tháng Chạp các bờ xe sẽ được lắp lại.

Trận bão kinh hoàng nhất, có lẽ là trận bão vào năm Nhâm Dần, niên hiệu Thiệu Trị thứ 2 (1842). Trong trận bão này, Nghệ An có 40.753 ngôi nhà bị đổ nát, 696 thuyền buôn và thuyền đánh cá bị chìm, nước biển dâng lên 14 - 15 thước (khoảng 3,5 - 4 mét), 5.240 người bị chết, đặc biệt là ở các vùng ven biển thuộc hạt Đông Thành, An Thành và Chân Lộc.

Có thôn thuộc An Thành chỉ có 300 người, nhưng còn có 10 người sống sót qua trận bão. Tại Hà Tĩnh có 9.160 nhà bị đổ nát, 136 thuyền bị đắm, 157 người bị chết. Thuyền của Thanh Hóa chở hàng hóa lẫn tù binh cũng bị đắm chìm, vỡ toang, làm 71 người chết, trong đó có 1 suất đội, 36 lính, 43 tù nhân.

Tại kinh thành (Huế), hơn 700 nhà dân bị lật đổ, nhiều người chết đuối. Tổng số người bị chết ở các tỉnh này trong trận bão năm 1842 lên đến hơn 5.500 người, đó là chưa nói đến con số thiệt hại tại các tỉnh thành khác. Những con số đó chỉ là những con số chỉ dựa vào lời phi tấu của các quan tỉnh thành, còn theo lời tâu của Binh khoa Chưởng ấn Cấp sự trung Trần Thiện sau khi ở Hà Nội về, thì ngoài nhà cửa đổ nát, ván thuyền trôi dạt vào trong ruộng, xác người chết còn nằm la liệt phơi ở bên đường, không đếm hết.

Các tác sách Đại Nam thực lục còn cho biết, trận bão này cũng càn quét qua các tỉnh Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, làm nhiều người chết, nhiều cửa nhà bị sụp đổ, nhưng không nêu con số thống kê cụ thể.

Vào năm Bính Ngọ, niên hiệu Thiệu Trị thứ 6 (1846), lại có một trận bão xảy ra vào tháng 5 nhuận. Các tỉnh bị thiệt hại nặng nhất vẫn là Nghệ An và Hà Tĩnh. Nghệ An có 22.980 ngôi nhà bị sụp đổ, 296 thuyền bị đắm, 722 đình chùa, đền miếu bị hư hại nặng nề, 120 người bị chết. Hà Tĩnh có 1.913 ngôi nhà sụp đổ, 38 đền chùa bị tan hoang, 9 chiếc thuyền của dân bị đắm, 34 người chết.

Vào năm Tự Đức thứ 20 (1867), một trận bão kinh hoàng vào tháng 5, đã làm đổ nát hơn 10 vạn ngôi nhà, hàng nghìn chiếc thuyền bị đắm, vỡ đê, nước biển dâng cao. Các tỉnh bị thiệt hại nặng nề nhất là: Sơn Tây, Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Nam Định, Hải Dương, Quảng Yên, Ninh Bình; người chết không đếm xuể.

Còn nhiều cơn bão khủng khiếp khác trong thời nhà Nguyễn, như trận bão trái mùa vào ngày 1 tháng 5 năm 1904 (nhằm ngày 16 tháng 3 năm Giáp Thìn), năm Thành Thái thứ 16, làm hơn 3.000 người ở Sài Gòn bị chết, mà ở đây chưa có dịp đề cập.

"Lấy lòng trẫm làm lòng mình, coi việc nước như việc nhà"

Đó là lời của Vua Thiệu Trị chỉ dụ cho Khâm sai đại thần - Thượng thư Bộ Lại Tôn Thất Bạch cùng Hộ đốc Tôn Thất Đường cấp tốc đi chẩn tế ở các địa phương bị bão lụt nặng nề, bởi theo nhà vua, để cứu họ, trước hết là phải lo việc chẩn tế. Nhà vua chỉ dụ: Quan chức các địa phương ở hai ty Phiên, Niết (ty Bố chánh và Án sát) cùng Lãnh binh phải đi trực tiếp khảo sát, chia dân đói khổ, thiệt hại làm 2 hạng, rồi trích tiền, gạo ở kho tỉnh, phủ, ra khẩn trương cứu tế. Các công trình hư hại thì quá nhiều, vậy nên cân nhắc sửa chữa, trước hết là phải lo cho dân.

Hoành Sơn Quan - Cửa ải Đèo Ngang xưa - Ảnh tư liệu.
Hoành Sơn Quan - Cửa ải Đèo Ngang xưa - Ảnh tư liệu.

Ngoài việc các địa phương phải lo kịp thời chẩn tế, về phía triều đình, dưới chỉ dụ của nhà vua, Khâm sai đại thần Tôn Thất Bạch cùng với Hộ đốc Tôn Thất Đường cũng đã hỏa tốc đến Nghệ An, cắt cử người đến 118 xã thôn, chi tiền 72.000 quan, cấp hơn 400 phương gạo, 1.300 hộc thóc. Một người bị chết được hỗ trợ 3 quan để mai táng. Nhà, thuyền bị hư hại thì chiếu theo mức độ thiệt hại mà cấp: Thiệt hại nhiều 3 quan, thiệt hại vừa 2 quan, thiệt hại ít 1 quan. Lại chia thứ hạng mà chẩn cấp, ưu tiên cho những người già yếu không nơi nương tựa, đàn bà, con gái, trẻ con  (Đại Nam thực lục, đệ tam kỷ, quyển XXIII).

Trong trận bão năm 1846, Vua Thiệu Trị cũng sai ngay các quan Khoa đạo là Nguyễn Hữu Thành, Đặng Minh Trân khẩn trương phối hợp với các quan ở tỉnh xuất tiền, gạo cứu trợ cho dân. Ở Nghệ An chi ra 32.282 quan tiền, Hà Tĩnh chi ra 2.117 quan tiền, 32 phương gạo (Đại Nam thực lục, đệ tam kỷ, quyển LVIII, theo bản của Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007).

Bên cạnh việc chẩn tế, các triều vua cũng chú trọng đến việc cho dân vay thóc gạo, hoặc tạm ứng trước thóc gạo từ các kho công của Nhà nước, các kho chứa ở các địa phương, như các kho Thường bình, Xã thương, Nghĩa thương. Việc cho vay không chỉ làm cho người dân có cái ăn mà còn làm bình ổn thị trường lúa gạo.

Sách Minh Mệnh chính yếu viết rằng: Vào năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) hai tỉnh Nam - Ngãi bị nạn bão lụt, nhiều nhà phải bắc sàn lên nóc. Tỉnh thần chiếu theo miệng ăn từng nhà mà cấp muối gạo. Vua Minh Mạng có dụ rằng: Cần phải xem xét lại, nếu cần thì tiếp tục phát gạo, muối, lại sai hỏi rõ trong dân gian ai muốn lãnh tiền trước bán đường, bán quế thì cũng cho phép xuất lúa công ra để ứng trước cho dân theo thời giá.

Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 63 (theo bản của Nxb Thuận Hóa, Huế, 2005) ngoài phần  ghi chép về việc chẩn tế đến 19 lần cho dân bị thiên tai từ thời Gia Long thứ 8 (1809) đến năm Tự Đức thứ 4 (1851), còn ghi chép về việc xuất gạo cho dân vay từ năm Gia Long thứ 5 (1816) đến thời Tự Đức, với tất cả 22 lần, trong đó có hàng chục lần do bị bão lũ khắp cả nước.

Cùng với việc chẩn tế, cho vay lúa gạo, các triều vua còn chú trọng đến việc giảm, hoãn thuế cho dân. Từ năm Gia Long thứ 5 (1806) đến năm Tự Đức thứ 2 (1849) có tất cả 17 lần miễn thuế, 7 lần giảm thuế tô (thuế nộp bằng thóc), vì hạn hán, sâu bệnh, đặc biệt là do bị bão lụt. Trong trận bão kinh hoàng vào tháng 5, năm Tự Đức thứ 20 (1867), nhà vua sai ngay Tham tri Nguyễn Mại, Biện lý Nguyễn Huy Tế, Tôn Thất Tĩnh khẩn trương chia nhau đi chẩn tế, phân từng bậc để miễn, giảm các thứ thuế cho dân.

Song song với các công việc này, các triều vua Nguyễn cũng chú trọng đến việc lập các Sở Dưỡng tế cho những người không nơi nương tựa, hoãn việc mộ lính, cử quan chức đi khám đồng lúa, khuyến khích việc quyên góp bằng tiền, thóc. Sách Khâm định Đại Nam hội điển sử lệ có ghi chép tên họ của những chủ lạc quyên ở khắp nơi trong cả nước, từ Hà Nội đến các tỉnh. Nhiều nhất là các nhà hảo tâm ở Gia Định, Biên Hòa, Vĩnh Long, Định Tường, An Giang… với hàng trăm người.

Bê trễ, lơ là chuyện bão lụt: Trừng phạt

Cũng trong trận bão năm 1842, sách Đại Nam thực lục có cho biết rằng: Lo sợ không được chu đáo với dân, lo đến từng người dân bị đói nên đêm khuya vua Thiệu Trị vẫn miệt mài xem các tập tấu trình, chưa sáng đã khoác áo dậy, nhưng các quan chức ở Bộ Hộ lại tỏ ra lười biếng, trễ nải, không tấu trình kịp thời, để nhà vua phải cắt cử các quan ở Nội các làm thay.

Một góc Bến Thủy - Nghệ An xưa.
Một góc Bến Thủy - Nghệ An xưa.

Vua ra dụ, phải chiếu pháp luật xử tội các đường quan lơ là, trễ nải. Trong trận bão năm 1846, quan tỉnh Nghệ An tấu trình: Trong trận bão này, thuyền to chở đường biển, thuyền tuần dương, thuyền hải vận, mỗi thứ 2 chiếc đều bị va vào bờ vỡ nát, hàng hóa đều bị đắm chìm. Nhà vua sai Thực đốc Đặng Đức Thiệm điều tra để tâu cho rõ.

Sau khi Đặng Đức Thiệm tâu lên, vua cho rằng: Thuyền hải phận không có tình tiết gì mà bỏ mặc không bảo quản; còn thuyền tuần dương thì ở đường sông, sóng cồn không ví như ngoài biển được, thế mà bị đắm, là do quản thuyền, lái thuyền và biền binh. Vì vậy phải cách chức quản thuyền, các phụ thuyền; lái thuyền thì cho về binh ngũ; các binh lính mỗi người phải bị chịu phạt 100 trượng.

Có thể tìm thêm về những câu chuyện mà Retord - Giám mục địa phận Tây Bắc kỳ kể về nỗi thống khổ của nhân dân Bắc kỳ trong trận bão lụt năm 1857 để hiểu hơn về nạn đói, chết chóc khi ấy (xem thêm: Nạn lụt, đói và tình trạng khốn cùng của nông dân Bắc kỳ năm 1857 qua lời kể của Rerord, Nguyễn Văn Kiệm sưu tầm và dịch, tạp chí Nghiên cứu lịch sử, số 5 - 2000). Xem ra, thiên tai thời nào đối với cuộc sống của con người, cũng đều khắc nghiệt cả.

Nguyễn Đăng Vũ

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.