Nhặt tình trong “Tiếng chim xanh biếc”

Nguyễn Nho Khiêm là thế hệ đàn anh mà tôi trọng, cả đường thơ lẫn đường đời. Ở Đà Nẵng, thi thoảng, tôi may mắn được hầu chuyện với các nhà thơ đàn anh quý mến như Nguyễn Ngọc Hạnh, Nguyễn Kim Huy, Trần Tuấn, Huỳnh Lê Nhật Tấn… và mới đây nhất là được ngồi với nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm đầy lý thú.

z5011009410311_14d2817fc1289cf252adf7b80f2d2b81.jpg -0
Nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm.

Lê la cà phê vỉa hè, tôi được anh đề tặng thi tập “Tiếng chim xanh biếc” vừa “ra lò” rồi chia sẻ kinh nghiệm từ những người đi trước truyền lại rằng: thơ, ngoài tính xuất thần thì cần phải lao động mỗi ngày, viết với tâm thế hồn nhiên khi cảm xúc ngân lên chứ đừng gồng gánh một tham vọng hay sứ mệnh nào đó.

Tôi lắng nghe và ghi nhớ, rồi cũng trộm nghĩ: những bài thơ hay sẽ đến bất chợt như tiếng hót của chim trời ẩn tàng trong tán xanh cổ thụ, do người đọc bình chọn chứ không phải thi sĩ tự quyết được. Ở khía cạnh nào đó, tôi nhìn thấy thơ Nguyễn Nho Khiêm có sự trong trẻo, hồn nhiên như tiếng chim xanh biếc vậy.

Bây giờ là thời của mạng xã hội lên ngôi và thơ không thể đứng ngoài. Có lẽ, nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm biết rõ điều này nên anh sử dụng Facebook nhuần nhuyễn, là một phương tiện đắc lực để thơ tiếp cận được người đọc bằng con đường ngắn nhất, nhanh nhất, hữu ích và tối ưu nhất. Hẳn những ai theo dõi Nguyễn Nho Khiêm trên Facebook đều nhận thấy anh cần cù sáng tạo với cánh đồng thơ. Cứ như miền đất, miền người nào mà anh hữu duyên dừng chân, gặp gỡ đều có thể xúc tác để gọi thơ về.

Phải chăng chất tình hào sảng của đồng quê xứ Quảng đậm đặc trong anh, đặc biệt là với tri âm văn chương, nên Nguyễn Nho Khiêm công khai dành tặng 1.000 bản thể thơ “Tiếng chim xanh biếc” cho bạn bè trên Facebook. Tôi ấn tượng với hành động này. Lại nữa, chỉ mới lướt xem bên ngoài thi tập, tôi đã bị những câu thơ của anh quyến dụ:

Một trăm con mắt trong tôi
Nhìn hoa thấy quả và chồi xưa sau
Nhìn mây - biển hoá bể dâu
Thấy khung cửi dệt vết đau nhân tình

Tôi là người tập toẹ với thơ tình, đồ rằng trong “Tiếng chim xanh biếc” sẽ ăm ắp tình. Bằng sự kính quý của mình, tôi mạo muội sẽ mót nhặt cái tình ẩn ức thi vị của một người thơ lão luyện Nguyễn Nho Khiêm để tỏ bày cùng bạn đọc - những người yêu thơ rất đáng trân trọng giữa hối hả xô bồ này.

Cái sự đọc của tôi hơi ngược đời một chút, đó là đọc từ bìa cuối vào nội dung tập thơ, lật trúng bài nào đọc ngay bài đó. Chẳng biết kiểu đọc như vậy có ảnh hưởng gì không, bởi trong “Tiếng chim xanh biếc”, nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm đã kỳ công sắp xếp để chia thành 4 chủ đề rất có sức gợi: “Đêm Hội An”, “Khúc xuân phố biển”, “Biển xanh bóng núi”, “Chữ tri âm”.

Tuy nhiên, tôi vẫn đinh ninh rằng mỗi câu thơ đã là một chỉnh thể, nên có những câu thơ neo lại trong lòng người đọc qua nhiều thế hệ và định danh thi sĩ mà không cần biết nó thuộc bài thơ nào, tập thơ nào, thời đại nào...

Nối mạch thơ từ “Bên cửa sổ” (NXB Hội Nhà văn - 2022) đến thi tập “Tiếng chim xanh biếc”, Nguyễn Nho Khiêm tiếp tục trải tình lên lục bát. Theo cảm quan văn chương của mình, tôi cho rằng lục bát là một thể thơ khó. Khó vì gần như người Việt nào cũng biết, cũng thuộc ít nhất dăm câu Kiều; ai cũng “vần vè” làm được vài câu lục bát vì nó gụi gần như lời ru của bà của mẹ, như lời ăn tiếng nói hằng ngày. Bởi thế, để viết lục bát hay là rất khó! Nguyễn Nho Khiêm chắc chắn biết rõ điều này nhưng anh vẫn chọn dấn thân, chứng tỏ anh là người nghiêm túc trong sáng tác.

Lục bát của Nguyễn Nho Khiêm thường đi từ ngoại cảnh, lấy ngoại cảnh làm nền để nhịp nhàng chuyển ý thắm đượm nhân sinh. Cái tài tình của anh là chủ ý sắp đặt, chỉ để một vài câu thơ nào đó trong bài sáng bừng lên, ý thơ thẳm sâu khiến người đọc mải cảm thức mà chìm vào hun hút.

a.jpg -0
Bìa tập thơ “Tiếng chim xanh biếc” của nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm.

Chiều qua tắm biển trong mây
Hỏi ngàn năm trước vẫn bay miết trời?
Rằng bay là cuộc rong chơi
Khi tan thành nước là đời tái sinh

                                (Tắm biển)

Chở em qua mối tình đầu
Đường xưa duyên díu dan đau dốc dài

                                (Chở em qua núi)

Ngồi nghe sóng ngói mái nhà
Chép lời rêu rất thật thà: thương em

                                (Lời rêu)

Nghe người kể chuyện bể dâu
Tôi ngồi chép lại một câu thơ tình

                                (Mơ mộng Hội An)

Tức cảnh sinh tình, cái tình rút ruột dành cho thơ của Nguyễn Nho Khiêm luôn hồn nhiên mà dung dị, gụi gần như hơi thở. Cái tình trong thơ anh ngoài cảm xúc mãnh liệt là trạng thái tinh thần an nhiên ẩn tàng trong lớp chữ tinh tế, tươi mới và hướng tới tự do. Chỉ cần nhìn một bông hoa chúm chím, một cánh chim chao nghiêng, hay ai đó gọi tên địa danh thân thuộc, nhắc nhớ thi nhân… cũng khiến anh túy lúy tình.

Vậy nên nhà thơ Nguyễn Ngọc Hạnh khẳng định: “Trong “Tiếng chim xanh biếc”, chúng ta gặp nhiều địa danh thân thiết mà anh đã đi qua, gợi lên bao cảm xúc trong cả tập thơ này. Tâm hồn nhà thơ gắn bó với từng vùng đất và tạo nên nhiều hình tượng nghệ thuật vượt ra ngoài tên đất, tên làng ấy. Có những địa danh được thi vị hóa, nhằm gửi gắm tình yêu, lưu giữ nhiều suy tưởng của nhà thơ, tạo nên mối giao cảm với tâm hồn người đọc”.

Hẳn vậy, thơ ca luôn có sự kết nối diệu kỳ của những tâm hồn đồng điệu với sự ngân rung từ con chữ. Nên, thơ ca có một năng lực siêu phàm là xóa bỏ mọi khoảng cách về không gian thời gian, bền bỉ chắt lọc và nâng niu vẻ đẹp tâm hồn. Bởi thế, từ trái tim sẽ đến được trái tim.

Phải là yêu từ trăm năm trước
Góc phố nào cũng cạn lòng say

                                (Say ở Hội An)

Tình như ủ dậy men trong lòng núi
Anh đi lên Hòa Bắc lại như về…

                                (Khúc Xuân Hòa Bắc)

Cuối đường mái ngói nằm mơ
Có đôi mắt phố khép hờ đợi ai

                                (Đêm Hội An)

Tôi nhớ đôi mắt em mở về phía tôi hôm ấy
Có bầu trời vĩnh viễn yêu thương

                                (Cửa sổ trời)

Cảm nhận của mỗi người đọc chắc chắn sẽ khác nhau, nên tôi chỉ trích dẫn những câu thơ nén tình tâm đắc khi lắng lòng nghe “Tiếng chim xanh biếc”, và sẽ không phân tích, đào xới những tầng nghĩa mang lớp lớp trầm tích trong đó. Tôi tin, người đọc sẽ đồng sáng tạo sau khi tác phẩm thành hình. Và biết đâu, mỗi người sẽ mở ra, nghe thấy những thanh âm khác ngoài “tiếng chim” mà ngay chính Nguyễn Nho Khiêm cũng sẽ ngạc nhiên khi soi lại bóng chữ của mình.

Có lẽ hữu duyên chăng, nên ý định ban đầu của tôi là chỉ ngẫu hứng mót nhặt nhưng lại may mắn thu về trĩu trịt tình. Thậm chí vượt lên cả tình là những chiêm nghiệm, đúc rút về vũ trụ, về nhân sinh chính từ sự trải từng thấm đẫm vị đời, thăng trầm sương gió cuộc người mà nên.

Thơ có thể khắc họa dung mạo thi nhân, tôi phần nào tin thế. Với Nguyễn Nho Khiêm, cả trong thơ lẫn ngoài đời, anh luôn đề cao các giá trị truyền thống về gia đình, xã hội, sự thuỷ chung… Đặc biệt, anh biết rõ ranh giới của những mối tình để vừa đủ gợi cảm hứng sáng tác, điều rất khó với những tâm hồn thở nhịp thi ca.

Nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm sinh ngày 1/12/1963 tại thôn Bồng Lai (phường Vĩnh Điện, thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam), là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Anh nguyên là Chủ tịch Hội Nhà văn thành phố Đà Nẵng trong suốt 10 năm (từ 2008 - 2018), là đại biểu Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng khóa VIII (2011 - 2016) và khóa IX (2016 - 2021). Hiện nay, nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm đang là Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật TP Đà Nẵng, Tổng biên tập Tạp chí Non nước.

Anh đã gặt hái được nhiều giải thưởng văn học, tiêu biểu như: giải A cuộc thi thơ Công đoàn tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng năm 1998; giải B cuộc thi thơ 2002 - 2003 của UBND TP Đà Nẵng; giải B của Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật TP Đà Nẵng năm 2004; giải C tập thơ “Bên ngoài cánh đồng” của Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam năm 2012; giải thưởng 5 năm Văn học - Nghệ thuật Đất Quảng của UBND tỉnh Quảng Nam lần thứ II (2009 -2013); giải thưởng 5 năm Văn học - Nghệ thuật TP Đà Nẵng lần thứ III (2010 – 2015)…

“Tiếng chim xanh biếc” là thi tập thứ 6 của nhà thơ Nguyễn Nho Khiêm, do NXB Hội Nhà văn cấp phép, vừa mới phát hành vào những ngày đầu tháng 10/2023. Năm tập thơ trước của anh gồm: "Khói tỏa về trời", "Bên ngoài cánh đồng", "Nắng trên đồi", "Bên cửa sổ", "Biến thể".

Lê Hải Kỳ

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).