Nhà văn Nguyễn Khắc Trường: Trong nỗi cô đơn nhìn vào cõi đời sâu thẳm...

Tôi biết bút danh Nguyễn Khắc Trường đầu tiên gắn trên trang bìa tiểu thuyết “Mảnh đất lắm người nhiều ma”. Tôi mua cuốn sách này khi tác phẩm vừa được trao Giải thưởng Hội Nhà văn năm 1991 cùng với “Bến không chồng” của Dương Hướng, “Thân phận tình yêu” (Nỗi buồn chiến tranh) của Bảo Ninh và sức nóng của nó tràn ngập các báo, đài.

Đọc suốt đêm, trắng đêm, đọc cả Chủ nhật, nhà văn Nguyễn Khắc Trường dẫn dắt tôi đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Lúc thì chìm đắm vào mối tình của bà Son yêu một người, phải lấy một người khác, cả đời đàn bà sống như cái bóng. Khi thì thấy lão Quềnh như bằng xương bằng thịt đi lại ở làng, rồi thoắt cái lại thấy cô Thống Biệu dẫn tôi đi gặp ma...

Buông sách, người thẫn thờ như vừa can dự một cuộc “nồi da xáo thịt” giữa hai dòng họ ở chính quê hương mình, chứ không phải xứ Thái Nguyên quê ông Nguyễn Khắc Trường. Lòng cảm phục vô cùng và ước ao được gặp tác giả của “Mảnh đất lắm người nhiều ma” để kể cho ông nghe những lúc thót tim, những khi ngộp thở vì đọc tác phẩm của ông.

anh-thay (1).jpg -0
Nhà văn Nguyễn Khắc Trường và nhà văn Tô Hoài.

Dạo ấy, tôi còn trẻ và đang sục sôi những bước đầu tiên trên con đường văn chương nên chỉ cảm nhận được mà chưa nhận biết và phân tích rạch ròi những cái hay, cái đẹp và sự hấp dẫn của tiểu thuyết “Mảnh đất lắm người nhiều ma”. Phải nhiều năm sau, tôi trưởng thành dần theo thời gian, đọc, quan sát và nghĩ ngợi, có một chút nghề, được gặp gỡ ông, tôi mới nhận ra cái cách nhà văn Nguyễn Khắc Trường dựng truyện rất khôn khéo, tài tình.

Ông cho rằng, truyện ngắn, tiểu thuyết phải có chuyện, cho nên ông rất chú ý đến cốt truyện, đến chi tiết. Có lẽ vì thế mà người đọc hồi hộp, đôi khi ngộp đến ngạt thở bởi ông dẫn dắt đi hết tình huống này đến trường đoạn kia theo những mâu thuẫn, xung đột trong cuộc đấu giữa hai dòng họ Vũ Đình - Trịnh Bá. Thạo nghề là lẽ đương nhiên, nhưng ông đột sáng khi dựng cá tính, và tính cách nhân vật đối lập trong hoàn cảnh đối nghịch khắc họa rõ nét thân phận nhân vật.

Trong hệ thống nhân vật của Nguyễn Khắc Trường như: Trịnh Bá Hàm thọt chân, Trịnh Bá Thủ, Vũ Đình Đại, Vũ Đình Phúc, cô Thống Bượu, ông Sửu, ông Cao, bà Son, bà Cả, ông Khừu, Gái, Chỉnh, Quản Ngư, Đồ Ngật, Tùng, Đào v.v... thì nổi bật nhất, có lẽ “sống” lâu nhất là... lão Quềnh. Có thể nói: văn chương Việt Nam, có những nhân vật để đời như Chí Phèo của Nam Cao, Xuân tóc đỏ của Vũ Trọng Phụng, chị Dậu của Ngô Tất Tố, anh Pha của Nguyễn Công Hoan, Giang Minh Sài của Lê Lựu, lão Khúng của Nguyễn Minh Châu... thì cũng phải nói đến lão Quềnh của Nguyễn Khắc Trường.

Để “viết được một cái gì đó cho ra hồn”, như ông trăn trở, thì phải có bản lĩnh và dấn thân, phải không muốn đi mãi con đường đã đi. Năm 1988, ông Nguyễn Khắc Trường xin nghỉ trực văn xuôi, để dành thời gian đi thực tế ở các vùng nông thôn Bắc bộ, ủ mưu viết lớn, viết khác. Ông bảo với tôi: “Dạo ấy, không khí văn chương sôi động, nóng bỏng lắm, mọi người muốn thay đổi, nghĩ khác, viết khác. Tớ cũng còn trẻ, rất muốn đi khỏi Hà Nội để viết một cái gì đó cho ra tấm ra món”.

Ông trở về Thái Nguyên quê hương, ông sang Hưng Yên, Hải Dương, ông vào Thanh Hóa và cắm sâu nhất ở các làng của huyện Triệu Sơn, Thọ Xuân và Nga Sơn... Ông nằm vùng, cùng ăn cùng ở cùng làm với dân như một người người nông dân thực thụ để cảm, để nhận ra cái mùi, cái vị, cái hồn của làng quê.

Dạo ấy, nông thôn đang “vỡ ra”, cái cũ chưa qua mà cái mới còn manh nha. Câu chuyện mâu thuẫn các dòng họ vốn sẵn hằng năm ở nông thôn lúc lắng xuống, lúc trồi lên thì đang có cơ hội mới bùng lên sục sôi. Người nông dân dân dã, mộc mạc, bình dị và lương thiện bị cuốn vào những mâu thuẫn nội tại của các dòng họ và lũ cường hào mới đã nổi lên như rươi. Những câu chuyện, nhân vật ngoài đời và hiện thực xã hội xứ Thanh gây cảm hứng nghệ thuật cho ông mạnh mẽ nhất. Nhưng, với người non tay và nệ thực thì không gian nghệ thuật sẽ là xứ Thanh, cụ thể là nông thôn đồng bằng Bắc Trung bộ mà Thanh Hóa là chốn phát lộ nhất.

Nhưng, Nguyễn Khắc Trường khi ấy đã qua Trường Viết văn Nguyễn Du, đã có thâm niên biên tập văn xuôi ở một tờ tạp chí lớn và đặc biệt là đang nóng bỏng khao khát đổi mới, khao khát “viết một cái gì đó cho ra hồn”. Chuyện thực nóng bỏng, ngồn ngộn, nếu cứ viết về nơi nó xảy ra sẽ bại ngay, vì văn hóa, ngôn ngữ xứ Thanh thì ông hiểu lơ mơ. Nguyễn Khắc Trường mang luôn hiện thực ấy về không gian đất và người quê mình bên sông Công, Thái Nguyên, nơi ông thạo từ lời ăn, tiếng nói, phong tục, tập quán vào tiểu thuyết, cho nhân vật hoạt động trong trường không gian văn hóa ấy... là một khôn ngoan, sáng suốt và tài tình của người sáng tác. Bởi, xét cho cùng, nhà văn phải viết những gì mình thuộc nhất, hiểu nhất và biết nhất.

Nhà văn Nguyễn Khắc Trường có một bút danh một thời đậm mùi lính tráng là... Thao Trường. Cái bút danh ấy dường như khẳng định ông rất yêu đời lính và đời lính tác động sâu sắc đến những năm tháng tuổi trẻ cầm bút. Các tác phẩm sinh ra từ bút danh này như: truyện vừa “Cửa khẩu” năm 1972 cùng tập truyện “Thác rừng” năm 1976 và “Miền đất mặt trời” năm 1982 đã đi vào di sản văn chương Nguyễn Khắc Trường, chứ không mấy người biết, đời văn chỉ cần bạn đọc nhớ đến “Mảnh đất lắm người nhiều ma” và cái tên Nguyễn Khắc Trường là đã đủ lắm rồi. Bút danh Thao Trường và các tác phẩm khác của ông đến bây giờ chỉ dành cho những người nghiên cứu văn học, học viên cao học..., thế cũng tròn đầy cho một đời văn.

Năm 2006, tôi tham gia ban biên soạn tập sách bìa cứng, khổ to, dày cộp gần 1.000 trang “Nửa thế kỉ truyện ngắn Văn nghệ quân đội” và chọn truyện ngắn “Chuyện chép trên đầu nguồn sông Hồng” của nhà văn Nguyễn Khắc Trường. Những dòng đầu tiên của truyện ngắn thu hút tôi không phải một cái mở đầu bất ngờ, hay mới lạ, mà là... ngôn ngữ và giọng văn: “Nhỏ bé và cheo leo, làng như một chiếc tem dán nghiêng vào vai núi. Ruộng bậc thang xếp dọc theo làng như đấy là bậc lên xuống của những bàn chân khổng lồ trong chuyện xưa. Làng vốn quen với không khí thanh bạch, ẩn mình vào thiên nhiên pha đậm màu sắc cổ tích, giờ bỗng đùng đùng bốc cháy! Tiếng lửa reo ù ù, tiếng nứa nổ toác ra chói đanh làm anh tỉnh cơn mê. Anh đã ngất bao lâu? Trung đội dân quân của anh đâu cả rồi?”.

Ví von “làng” giống “cái tem”, mà cái tem ấy lại “dán nghiêng vào vai núi”. Núi có chân, có sườn, có đỉnh, có vách là chuyện thường, nhưng núi của Nguyễn Khắc Trường có vai thì lạ quá. Truyện ngắn này kể về một anh bộ đội thời chống Mỹ bị thương, xuất ngũ, về bản làm trung đội trưởng dân quân, phụ trách đội ươm cá đẻ. Cô gái bản tên Miêng thầm yêu anh nhưng anh không để ý, chỉ tập trung vào công việc. Thế rồi, giữa lúc cá con sắp nở “như mưa sao” thì cô gái Hoa Sinh học trung cấp thủy sản trở về.

Hằng ngày phải nhìn anh và cô gái Hoa kiều béo trắng, “đường nét cựa quậy, núng nính” làm việc với nhau thân mật, tâm đầu ý hợp và thường xuyên bên nhau, Miêng “bất ngờ đến váng vất”. Cô mặc cảm mình xấu hơn, trình độ văn hóa thấp hơn cô Hoa kiều mới về, nhưng cô cũng nhận ra họ vừa đôi phải lứa. Vốn quen nhường nhịn, bao dung, hiền hậu đến mức khi có chuyện người Hoa bỏ về bên kia biên giới, cô còn lo lắng cho Hoa Sinh.

Chiến tranh biên giới phía Bắc xảy ra, anh bị thương, lạc vào rừng. Miêng đi tìm và tìm được anh, nhưng bất ngờ gặp Hoa Sinh cùng một toán quân địch. Cũng may, viên đạn từ nòng súng của Hoa Sinh không trúng anh và Miêng. Hoa Sinh hiện ra gương mặt thật “nội gián”, dẫn quân xâm lược về bản và ông bố nuôi Hoa Sinh cũng cùng một duộc. Quân chủ lực tràn lên cứu viện.

Địch rút. Cô gái Hoa Sinh chạy vào đúng ổ phục kích của đội quân xâm lược và bị chết bởi chính viên đạn của những kẻ xâm lược. Anh trung đội trưởng dân quân nằm trạm xá “thắc thỏm mong Miêng đến” và anh chợt nhận ra cô là một cái gì đó vô giá ở bên mà anh bây giờ mới biết... Tác phẩm quyến rũ người đọc bằng cái lấp lánh hấp dẫn của ngôn ngữ từ mở đầu và suốt truyện, còn kết truyện thì đột ngột, bất ngờ.

z5891828988893_233cf66ff50a740927366cf3cba06863.jpg -1
Nhà văn Nguyễn Khắc Trường (áo trắng) cùng các đồng nghiệp Trung Quốc thăm Vạn lý trường thành.

Có lẽ, đời văn Nguyễn Khắc Trường, những gì viết trước năm 1986 chỉ là giậm chân khởi động, là những bước chạy đà đầu tiên báo hiệu một cái gì đó bất ngờ, đột phá đang chờ ở phía trước và phải đến “Mảnh đất lắm người nhiều ma” mới là cú vọt lên cao, bay xa. Nhưng, tôi đồ rằng cú rướn nhảy lại là thiên bút ký “Gặp lại anh hùng Núp”.

Anh hùng Đinh Núp là nhân vật trung tâm, ngờm ngợp các chi tiết làm nên các câu chuyện về ông Núp và các mối quan hệ của ông đặt vào không gian văn hóa sinh động, ăm ắp hương sắc, hồn vía Tây Nguyên. Chất truyện dày hơn chất ký và kho tri thức về văn hóa bản địa hiện lên trên từng trang viết. Về thể loại, tôi có cảm giác như thiên bút ký chỉ là chiếc áo quá chật không chứa nổi hiện thực vạm vỡ. Thú thực, lại một nữa tôi bị thuyết phục bởi ngôn ngữ và giọng văn của Nguyễn Khắc Trường. Bút ký “Gặp lại anh hùng Núp” đoạt giải Nhất cuộc thi bút ký do tuần báo Văn nghệ và Đài Tiếng nói Việt Nam cùng tổ chức cũng không lạ.

Năm 1982, nhà văn Nguyễn Khắc Trường được điều về làm biên tập ở Tạp chí Văn nghệ quân đội. Khi ấy, nhà văn Nguyễn Khải vẫn chưa chuyển ra ngoài, nhà văn Nguyễn Minh Châu thì 7 năm sau mới mất vì căn bệnh hiểm nghèo. Ông Nguyễn Khắc Trường may mắn được sống, làm việc và học hỏi nhiều từ các nhà văn đàn anh tài năng. Ông đã từng “cắp tráp” đi theo nhà văn Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu đi thực tế sáng tác nhiều chuyến. Đi để xem bậc đàn anh hành nghề thế nào, để học được cái gì đó.

Mỗi người một cách riêng thâm nhập thực tế, nhà văn Nguyễn Khải thì chăm chỉ ghi chép. Nhà văn Nguyễn Minh Châu, nhà văn Nguyễn Khắc Trường thì không mấy khi giở giấy bút. Trong lúc ông Nguyễn Khải hỏi nhiều, ghi lắm, ghi cụ thể, tỉ mỉ thì Nguyễn Khắc Trường cứ nhởn nhơ như người đi theo, đi chơi. Nhưng, không có cái gì qua mắt ông, bởi ông quan sát, ghi nhớ cái đáng nhớ vào trong đầu và nghĩ ngợi. Một cách đi thực tế, hỏi lắm, ghi nhiều như Nguyễn Khải vẫn ra những bút ký nóng hổi đời sống giàu suy tư, triết lý. Một cách đi tiếp cận đời sống như đi chơi, không ghi chép, chỉ hỏi, nghe và quan sát, nghĩ ngợi như Nguyễn Khắc Trường lại cần có trí nhớ tuyệt vời.

Tôi có 5 năm làm việc cùng nhà văn Nguyễn Khắc Trường khi ông làm Chủ tịch Hội đồng Văn xuôi, Hội Nhà văn Việt Nam. Trí nhớ của ông khiến tôi vô cùng cảm phục. Xét kết nạp đến tác giả nào cùng thời với ông trở về trước và sau đó là thế hệ chúng tôi, ông đều nhớ vanh vách các bút danh, tác phẩm xuất bản năm nào, cốt truyện ra sao, nhân vật, chi tiết thế nào, rồi giọng văn, cá tính... Nhớ còn vì ông làm biên tập lâu năm, đã từng xử lý nhiều bản thảo của người sáng tác khắp cả nước. Có tác giả, khi đưa ra bàn luận ở hội đồng, nhà văn Nguyễn Khắc Trường bảo: “Tôi cứ tưởng ông ấy vào hội lâu rồi, đáng lẽ phải vào hội trước cả tôi. Sao bây giờ chúng ta mới xét ông ấy nhỉ?”.

Một lời của ông thuyết phục và có sức mạnh như mệnh lệnh sai khiến cả binh đoàn. Tôi cũng may mắn được chấm thi cùng ông ở một số cuộc thi cấp Trung ương và cả địa phương nữa. Phải nói là ông có “uy lực văn chương”, dù ông ở cương vị chủ tịch hội đồng giám khảo, hay chỉ là thành viên, dù ông nói trước hay phát biểu sau. Mạch lạc. Khúc chiết. Và, khái quát đầy thuyết phục. Có cuộc chấm thi, ý kiến nhận xét, đánh giá của Nguyễn Khắc Trường có sức nặng đến mức hầu như các thành viên khác đều gật gù nhất trí.

Ông là người biết đủ. Ông vừa lòng với cuộc sống của mình, vừa lòng với những gì mình làm được. Bây giờ, nhà văn Nguyễn Khắc Trường đã về cõi cao xanh, chắc chắn ông sẽ vẫn thanh thản, an lành, ngao du với miền mây trắng. 

Sương Nguyệt Minh

Các tin khác

Khơi thông nguồn lực từ dữ liệu văn hóa

Khơi thông nguồn lực từ dữ liệu văn hóa

Việt Nam đã tạo lập ngày càng nhiều dữ liệu số về di sản, nhưng phần lớn vẫn phân tán, thiếu liên thông và chưa được khai thác như một nguồn lực. Chuyển từ những bản sao số rời rạc sang hạ tầng tri thức dùng chung vì thế là điều kiện để di sản tiếp tục tạo ra giá trị cho nghiên cứu, giáo dục, sáng tạo và cộng đồng.

Vì sao Mỹ ra tay cứu đồng yen Nhật Bản?

Vì sao Mỹ ra tay cứu đồng yen Nhật Bản?

Trước đà lao dốc của đồng yen, Mỹ đã ra tay hỗ trợ Nhật Bản sau gần 3 thập kỷ, đánh dấu động thái phối hợp hiếm hoi giữa lúc những tác động từ tỷ giá ngày càng lan rộng.

Các nghệ sĩ trẻ với tư duy mới mẻ mang đến sức sống mới cho làng nghề.

Tái sinh di sản làng nghề

Hà Nội sở hữu hơn 1.300 làng nghề. Thế nhưng, nhiều làng nghề đang đứng trước nguy cơ mai một vì thiếu thị trường, thiếu người kế nghiệp và thiếu không gian để kể câu chuyện của mình. Trước thềm Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026, những người trẻ đã chọn làng nghề làm chất liệu sáng tạo, mở ra một cách tiếp cận mới, tái sinh di sản làng nghề…

Khi cổ vật thành “mồi” của kẻ gian

Khi cổ vật thành “mồi” của kẻ gian

Những pho tượng, sắc phong trong đình chùa đến những cấu kiện nguyên gốc của các công trình cổ, nhiều di sản đang trở thành mục tiêu của nạn trộm cắp ngày càng tinh vi, táo tợn. Mỗi cổ vật bị thất lạc không chỉ là mất đi một tài sản quý giá, mà còn là sự đứt gãy một phần ký ức lịch sử, văn hóa của dân tộc.

Từ nâng tầm quản trị đến khát vọng chuyên nghiệp hóa

Từ nâng tầm quản trị đến khát vọng chuyên nghiệp hóa

Trước đòi hỏi của kỷ nguyên phát triển mới, thể thao Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt chiến lược: chuyển đổi mạnh mẽ từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại và thương mại hóa chuyên nghiệp. Nâng cao năng lực tổ chức sự kiện không chỉ là thước đo điều hành, mà còn là chìa khóa mở ra không gian kinh tế thể thao đầy tiềm năng.

Tuân thủ nguyên tác hay dũng cảm bước qua?

Tuân thủ nguyên tác hay dũng cảm bước qua?

Khi “The Odyssey” - bộ phim điện ảnh lấy cảm hứng từ sử thi kinh điển của Homer công bố dàn diễn viên, lựa chọn của đạo diễn Christopher Nolan tựa như “quả táo bất hòa”, tạo ra những luồng tranh luận sôi nổi, độc giả lan tỏa những bài viết phân tích, so sánh với nguyên tác sử thi. Cùng thời gian, điện ảnh Việt Nam dậy sóng khi công bố Tăng Thanh Hà vào vai Nam Phương Hoàng hậu. Tại sao đạo diễn lại thích đảo lộn những hình mẫu vốn đã quá đỗi quen thuộc và thành công từ nguyên tác? Liệu việc tuân thủ tuyệt đối tác phẩm gốc có phải “lá bùa hộ mệnh”, hay sự phóng tác dũng cảm mới giúp tác phẩm đến gần hơn với thế hệ khán giả mới?

Cần hệ sinh thái sáng tạo cho họa sĩ trẻ

Cần hệ sinh thái sáng tạo cho họa sĩ trẻ

Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ 8 năm 2026 đang diễn ra tại Hà Nội, mở ra một không gian đối thoại đa chiều của nghệ thuật đương đại, phản ánh tiếng nói của những người trẻ trước cuộc sống và những thay đổi của thời cuộc. Tuy nhiên, hơn cả một kỳ liên hoan, mỹ thuật trẻ cần có một chiến lược phát triển dài hạn trong thời gian tới.

Mỹ thâm hụt ngân sách do hoàn thuế nhập khẩu

Mỹ thâm hụt ngân sách do hoàn thuế nhập khẩu

Sau khi Tòa án Tối cao bác bỏ cơ sở pháp lý của nhiều mức thuế quan, Chính phủ Mỹ phải hoàn hàng chục tỷ USD cho doanh nghiệp nhập khẩu, gây ra hậu quả ngân sách tháng 6/2026 thâm hụt 120 tỷ USD.

Hình tượng người chiến sĩ - từ nguyên mẫu đến màn ảnh

Hình tượng người chiến sĩ - từ nguyên mẫu đến màn ảnh

Thời gian gần đây, nhiều bộ phim có chất liệu từ những chuyên án và nguyên mẫu có thật trong lực lượng CAND đã được đưa vào sản xuất. Những tác phẩm điện ảnh ấy không chỉ mang đến những câu chuyện chân thực, giàu tính nhân văn, tái hiện sinh động cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh Tổ quốc mà còn khắc họa bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh của các chiến sĩ Công an trong nhiều giai đoạn lịch sử.

Đào tạo trẻ - nền móng bền vững của Thể thao CAND

Đào tạo trẻ - nền móng bền vững của Thể thao CAND

Trong thể thao thành tích cao, mỗi tấm huy chương không chỉ được quyết định ở khoảnh khắc thi đấu, mà được vun đắp từ rất sớm: từ khâu phát hiện năng khiếu, lựa chọn môn phù hợp, xây dựng giáo án huấn luyện, tạo dựng môi trường rèn luyện cho đến bồi dưỡng bản lĩnh qua từng giải đấu. Với Thể thao Công an nhân dân (CAND), công tác đào tạo trẻ vì thế luôn mang ý nghĩa đặc biệt. Đó không chỉ là nhiệm vụ chuẩn bị lực lượng kế cận cho thể thao CAND, mà còn là sự đóng góp thiết thực vào thành tích chung của thể thao Việt Nam.

Chuỗi cung ứng và mặt trận an ninh mới

Chuỗi cung ứng và mặt trận an ninh mới

Đầu năm 2026, khi xung đột Mỹ - Iran đẩy eo biển Hormuz vào tình trạng gián đoạn nghiêm trọng, nỗi lo của thế giới không chỉ là giá dầu, mà còn là chip bán dẫn.

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Những tấm thân vùi sâu dưới đất, nằm yên lặng hơn nửa thế kỷ, có những tình yêu không được viết bằng đám cưới, mà được viết bằng cả một đời chờ đợi. Đó là những thước phim chân thực và sống động nhất đã và đang diễn ra trong “chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm hài cốt liệt sĩ.

Tiệm cận thế giới để vươn xa

Tiệm cận thế giới để vươn xa

Trong những năm gần đây, điện ảnh Việt Nam ghi nhận bước tiến rõ rệt cả về quy mô thị trường lẫn năng lực sản xuất. Chất lượng hình ảnh, thiết kế mỹ thuật, diễn xuất hay tổ chức sản xuất ngày càng tiệm cận những chuẩn mực mới. Tuy nhiên, để một bộ phim không chỉ thành công trong nước mà còn có thể bước ra các liên hoan phim, thị trường phát hành quốc tế, điểm nghẽn lớn nhất vẫn nằm ở kịch bản. Những câu chuyện giàu bản sắc Việt Nam cần được kể bằng một ngôn ngữ điện ảnh đủ sức tạo đồng cảm với khán giả toàn cầu.

"0% lãi suất" và góc khuất ứng lương qua app

"0% lãi suất" và góc khuất ứng lương qua app

Chỉ cần vài thao tác không quá 10 phút trên điện thoại, người lao động có thể nhận trước tiền lương nhờ những lời quảng cáo "0% lãi suất", "giải ngân trong 5 phút". Nhưng phía sau sự tiện lợi ấy là các khoản phí phát sinh mà người lao động chỉ biết khi đã nhận tiền và khả năng vi phạm pháp luật, nguy cơ phụ thuộc tài chính và nếu không tỉnh táo thì rất khó để phân biệt giữa dịch vụ ứng lương với hoạt động cấp tín dụng.

Khi nắng nóng có thể làm “bốc hơi” GDP

Khi nắng nóng có thể làm “bốc hơi” GDP

Những đợt nắng nóng cực đoan đang hoành hành tại châu Âu không chỉ là vấn đề thời tiết hay môi trường, mà ngày càng hiện rõ như một thách thức kinh tế, đe dọa tới tốc độ tăng trưởng GDP và gây ra khó khăn cho mọi mặt đời sống.