Nguyễn Thế Kiên: Nết quê chưa bao giờ cũ

Theo nhà thơ Nguyễn Thế Kiên, cái hồn cốt của quê làm nên văn hóa làng, làm nên sự chân thành, thật thà thơm thảo của người quê!

Hồn quê ở trong từng nếp nhà, cánh đồng, từng cái ao chuôm, ngõ ngách, trong hạt lúa củ khoai, củ sắn, vườn rau, trong câu chuyện của ông bà, cha mẹ, mới là cái bồi tụ nên nét đặc trưng của văn hóa làng quê Việt Nam qua những biến đổi của thời gian và lịch sử! Câu chuyện giữa chúng tôi và Nguyễn Thế Kiên thơm mùi châu chấu nướng, rơm rạ, cánh đồng.

a.jpg -0
Nhà thơ Nguyễn Thế Kiên.

- “Ngược xuôi đi giữa tảo tần/ Hồn rơm vía rạ hóa thân mà thành”,có phải vì sinh ra từ làng, lớn lên từ đồng ruộng; Chính gốc gác “nhà quê” đã ám vào những câu thơ của anh chăng?

+ Thật ra thì cái gốc gác nhà quê đã nhập vào vía chữ thơ tôi, cánh đồng và làng quê, người quê, nết quê đối với tôi là một tài sản vô giá. Bởi vì thế nên chảy suốt mười lăm tập thơ mà tôi đã xuất bản luôn thấm đẫm hồn vía của mạch đồng quê ấy. Tôi sinh ra ở xứ đồng chiêm trũng Ý Yên, Nam Định, thuộc trấn Sơn Nam Hạ cũ. Tuổi thơ của tôi là bát ngát đồng xanh, là cái tôm cái tép, hạt lúa, củ khoai mang thân phận con người, như trong những câu ca dao cổ tích. Ngấm và thấm những điều ấy từ cánh đồng, từ quê hương, từ văn hóa và gốc gác nhà quê, mà thơ tôi trổ thành câu chữ! Lời quê, tiếng quê, đã giúp tôi lập ngôi câu chữ của mình trong thơ!

Từ góc nhìn của riêng tôi, thì cái nết quê, cái văn hóa đồng quê kia chưa thấy bị cũ đi chút nào cả! Trong xã hội Việt Nam hôm nay, nó vẫn hiện hữu đậm nét qua cách ngoại giao, ứng xử của nhiều nhà chính khách hàng đầu đất nước, tới những thường dân của xứ sở này! Và với tôi, có lẽ cái nết văn hóa ấy, nếp làng ấy, chả bao giờ cũ, chả bao giờ bị hòa tan ở bất cứ thời thế nào, bởi nó là cội nguồn và khí cốt của người Việt! Với tôi, những cung bậc từ phía ruộng đồng vẫn quá đủ để cho tôi soi chiếu và chiêm nghiệm về những biến động từ bể phù sinh hôm nay!

- Đã có nhiều nhà thơ thành công, ngay ở quê ông, Nguyễn Bính được định danh là “nhà thơ chân quê”, ông có cảm nghĩ như thế nào nếu gọi ông, một “hậu duệ” của Nguyễn Bính là nhà thơ của “hồn quê”.

+ Tôi may mắn sinh ra trên mảnh đất sản sinh ra một thần đồng thơ lục bát Nguyễn Bính. Vì mê ông, ngưỡng mộ ông mà tôi tìm đến thơ. Nói hậu duệ thì ưu ái cho tôi quá, nhưng thú thật, vương vít được chút tài hoa trong câu chữ của bậc tiền nhân là tôi đã hạnh phúc lắm rồi. Mọi định danh cho một cách viết, một tư duy thơ chỉ là tương đối! Tuy nhiên, thi sĩ Nguyễn Bính là một ngôi sao lớn trong bầu trời thi ca Việt Nam, làm nên tên tuổi ông ấy là những bài thơ quê chân chất, dung dị mà đa tầng, đọc thơ Nguyễn Bính là thấy hiện lên trong câu chữ thơ ấy cái nết quê thuần hậu, cái tình quê đằm thắm và nhiều thứ khác rất đặc trưng cái nết thôn quê đã hiện hữu ở dưới gầm trời này! Còn với tôi, tôi không dám và chả bao giờ đem mình so sánh với tiền nhân, tôi chỉ mang cái hồn quê ám quyện vào câu chữ. Tôi trân quý cái sâu thẳm trong nguồn mạch làm nên cái nết quê, cái tình quê kia. Ấy là phần linh thức của làng quê, của văn hóa lúa nước.

Người ta gọi tôi thế nào qua thơ tôi, ấy là quyền của bạn đọc, còn với tôi, trong cái hồn quê ấy, tư duy thơ tôi không bị bó buộc bởi thực tại, bởi rạ rơm mùa cũ, bởi mái tranh, mái ngói, hay bởi biệt thự, xe sang đang dần xuất hiện ở các làng quê. Cái hồn cốt của quê trong ấy mới làm nên văn hóa làng, làm nên sự chân thành, tử tế của người quê! Nó mới là cái bồi tụ nên nét đặc trưng của văn hóa làng quê Việt Nam qua những biến đổi của thời gian và lịch sử!

Hồn quê ấy, như nhà báo đã dẫn, nó là sự tử tế, sự thân ái, nhân hậu, công bằng, chịu thương chịu khó của những người nông dân. Nó liên tục được xây dựng, được bồi đắp và mở rộng biên độ bằng trí tuệ qua mỗi thế thời. Từ góc riêng của mình, tôi trộm nghĩ, đất nước này sẽ ra sao nếu cái nguồn mạch quê, cái hồn quê kia ngày một vơi đi trong đời sống của người Việt? Với tôi, hồn quê là nét đặc trưng để làm nên bản sắc văn hóa Việt Nam. Mà bản sắc văn hóa của một dân tộc, gần như là một bộ quy chuẩn, quy ước, để từ đó, người ta nhìn nhận, quy chiếu, đánh giá về những sự việc, hiện tượng đã và đang diễn ra trong đời sống xã hội của dân tộc ấy!

Hồn quê, khi nhìn theo nghĩa rộng, nó có giá trị lớn như vậy, cho nên dù ở bất cứ thời đại nào, thì nó rất cần được bảo tồn, gìn giữ và chuyển tải! Và nếu chuyển tải nó bằng lời quê, tiếng quê, tình quê, thì thơ Lục bát luôn là một lợi thế để lựa chọn!

- Ông viết nhiều thể loại, thơ, văn xuôi, tiểu luận phê bình; riêng thơ cũng nhiều thi pháp nhưng vì “nghiện” thơ lục bát, mà lấy luôn nickname là “Kiên lục bát”. Theo ông, hiện nay thơ đang chuyển dịch như thế nào? Nhiều người chú trọng vào “ngắt câu, bẻ dòng”, thêm dấu chấm trong câu... Đó có phải thể hiện sự lúng túng trong sáng tạo không? Liệu có phải khi nội dung nghèo nàn thì người ta hay chú trọng đến hình thức?

t%3fp tho l%3fc bát c%3fa nguy%3fn th%3f kiên.jpg -1
Tập thơ lục bát của tác giả Nguyễn Thế Kiên.

+ Cảm ơn anh, đây là một câu hỏi thú vị mà tôi được nhận. Nó thú vị bởi tính chuyên môn và ở tầm khái quát nằm trong nội hàm của câu hỏi, thế hệ tôi và anh vài ba mươi năm trước, khi cầm bút làm thơ là nghĩ và viết theo cảm xúc, cảm xúc là chính, cảm xúc ấy được sinh ra từ góc nhìn, từ nhân sinh quan của mỗi nhà thơ, rồi nó nhập vào câu chữ mà thành thơ vậy! Nhưng bởi chúng ta tôn thờ cảm xúc thơ quá, mà dẫn đến sự xung đột trong sáng tác, sự bất nhất về tư tưởng trong chính những bài thơ của chúng ta! Là người làm thơ, va đập với thơ liên tục trong mấy mươi năm qua, tôi mới nhận ra điều ấy. Thơ cần lắm một tư duy tổ chức nhất quán cho mỗi bài thơ, mỗi tập thơ, tư duy thơ ấy sẽ hình thành nên tư tưởng và sắc thái riêng của mỗi nhà thơ!

Thơ hôm nay đã có rất nhiều cái khác, ấy là bên cạnh cảm xúc, thơ cần được xây dựng bởi chính tư duy và trí tuệ của nhà thơ! Thơ hôm nay đang hướng vào các tầng thức sâu hơn, vi tế hơn của sự việc, sự vật hiện tượng, hướng vào những nỗi niềm sâu kín hơn của kiếp nhân sinh! Thơ hôm nay tiếp cận, dìu đỡ và giải phóng những nỗi niềm người bằng trí tuệ, bằng sự minh định của tri thức! Đấy chính là sự chuyển dịch vô cùng cần thiết cho thơ, có như thế thơ mới có thể tiếp cận, tương tác và chia sẻ với cuộc sống của thời đại này!

Về việc “ngắt câu, bẻ dòng” trong thơ truyền thống mà chúng ta thường gặp trong vài mươi năm trở lại đây, cụ thể là thơ Lục bát, hiện đang tồn tại hai hướng làm. Hướng thứ nhất là làm mới theo kiểu bẻ gãy cấu trúc câu thơ Lục bát, ngắt dòng, xuống dòng liên tục, để mong thơ mình đỡ bị mòn cũ bởi sự quen thuộc của thơ Lục bát. Cách làm này chỉ là một biện pháp tình thế để nhằm một mục đích nào đó của tác giả, thực tế nó không làm tăng tính thẩm mỹ và nghệ thuật của bài thơ. Hướng làm này, đúng như quy luật mà anh đã nêu trong câu hỏi: khi nội dung nghèo nàn thì người ta hay chú trọng đến hình thức?

Hướng thứ hai, là ngắt dòng để tạo hiệu ứng, để làm tăng sức chở, làm tăng biên độ và sức lay gợi cho câu chữ của thơ mình. Nhiều tác giả lại sử dụng phương pháp vắt dòng, ngắt dòng trong thơ Lục bát hiện đại, với mục đích để biểu đạt trọn vẹn ý thơ mà mình muốn truyền tải... Cách ngắt dòng, vắt dòng, xuống dòng trong trường hợp này là sự tìm tòi sáng tạo về nghệ thuật, rất đáng ghi nhận.

Xin lấy ví dụ về một cung Lục bát được ngắt dòng của thi sĩ Trần Đăng Thao mới xuất bản. Trong ấy, nhà thơ đã ngắt câu thơ ra như thế này: “Khói hương/ Lặng lẽ/ Lên trời/ Đường xa thăm thẳm/ Cõi người/ Bể dâu/ Con về/ Chẳng thấy mẹ đâu/ Ngoài sân/ Chỉ một giàn trầu/ Mồ côi!”. Giờ chúng ta thử để liền lại theo cách trình bày của thơ lục bát truyền thống: “Khói hương lặng lẽ lên trời/ Đường xa thăm thẳm cõi người bể dâu/ Con về chẳng thấy mẹ đâu/ Ngoài sân chỉ một giàn trầu mồ côi!”.

Rõ ràng khi chuyển về cách trình bày của thơ Lục bát truyền thống, thì ý tứ thơ, không gian thơ cùng các tầng nghĩa của ngôn ngữ thơ đã bị làm hẹp, làm mỏng lại, thậm chí bị mất nghĩa biểu đạt (như ở câu thơ thứ hai). Ấy là chưa kể đến cái cách ngắt mạch của thi sĩ Trần Đăng Thao, còn ngầm biểu đạt sự thổn thức, nấc nghẹn trong mạch chữ kia! Bởi vậy, việc ngắt câu, bẻ dòng trong thơ Lục bát của sự sáng tạo nghệ thuật, khác hẳn cái cách “bẻ câu, bẻ dòng” chỉ với mục đích làm mới về hình thức!

Ngô Đức Hành (thực hiện)

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).