Nguyễn Một đi "Ngược mặt trời"

Nhân đọc tiểu thuyết "Ngược mặt trời", NXB Hội Nhà văn, 2012.

Trong làng văn, có những tác giả 50 năm một giọng điệu, một cách viết, thậm chí họ "canh tác" chỉ trên một cánh đồng hiện thực… vẫn hay, đọc vẫn hấp dẫn. Nhưng, có người viết 5 năm đã thấy cũ mòn, lặp lại, đã thấy cái sau na ná cái trước, đã thấy thấp thoáng ở đâu đó rồi.

Lại có tác giả không bao giờ chịu cũ, không bao giờ chịu làm bảo tàng văn học cho mình, còn hay dở là một câu chuyện khác. Quan niệm: nhà văn với tư cách là người sáng tạo nghệ thuật chẳng những phải khác với bạn nghề, không dễ đứng chung vào dàn đồng ca, tốp ca; mà còn phải mới lạ với chính mình… luôn là khát vọng bỏng cháy và lao động cầm bút khổ ải, nhọc nhằn. Nguyễn Một là một người văn như thế, không chịu đi lại con đường xưa để chính ông khỏi chai mòn gót chân, và tiểu thuyết "Ngược mặt trời" là một ví dụ.

Ngược mặt trời là thế nào? Tôi đã đọc nhiều lần, ngẫm nghĩ và cắt nghĩa xem Nguyễn Một định nói điều gì ở tiểu thuyết này?

Phải chăng hành trình "Ngược mặt trời" là đi về phía bóng tối, đi về phía đêm đen của lịch sử, đi về ký ức đã bị thời gian úa vàng vùi lấp? Và rồi, nhà văn Nguyễn Một khám phá, ứng xử với những điều đã qua, những cái đã mất ra sao?!

Người Việt Nam khá quen thuộc với nhân vật Bá Đa Lộc, bị "đời sau kết tội cha đã đưa thực dân Pháp vào Việt Nam , và gọi Nguyễn Ánh là cõng rắn cắn gà nhà". Hành trình "Ngược mặt trời", Nguyễn Một đi vào phần bóng tối của cha đạo Bá Đa Lộc. Trong tiểu thuyết này, nhân vật Bá Đa Lộc tự bào chữa, cho rằng Nguyễn Ánh lợi dụng tôn giáo, lợi dụng cha để làm chính trị, nhưng khi đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử thì quay lưng lại với tôn giáo: "Ta tin rằng nếu không có di chỉ của Gia Long thì con cháu ông ta không xuống tay tàn bạo với đạo ta như thế". Có vẻ như Bá Đa Lộc chỉ nhận việc làm của cha là hành đạo, cha nhập nhòa không chịu nhận trách nhiệm về việc đưa thực dân Pháp xâm lược Việt Nam . Chỉ đến khi mẹ Têrêsa chỉ ra những đặc quyền đặc lợi khi sống và cả khi chết của Bá Đa Lộc thì cha mới lặng thinh "thở dài và quay mặt về khoảng tối sau lưng mình". Số từ dành cho Bá Đa Lộc trong tiểu thuyết không nhiều, nhưng Nguyễn Một cũng đã kịp lật ra ánh sáng phần bồ hóng đen nhôm nhoam của ngài cha cố bị người dân Việt Nam nguyền rủa suốt mấy trăm năm.

Đi "ngược mặt trời", Nguyễn Một đi vào phía đêm đen lịch sử cấm đạo của vua Minh Mạng, mà Tổng đốc Trần Hiệp là một kẻ thực thi sốt sắng, nồng nhiệt, trung thành đến trắng trợn tàn sát giáo dân. Những hình ảnh, chi tiết, thời gian nghệ thuật diễn tả sự khốn cùng và thử thách con chiên; rồi các nhân vật Thánh Mátthêu Lê Văn Gẫm, cha Mạc Danh Du… tử vì đạo, được phong Thánh…. Từ cái nhìn nhân ái, Nguyễn Một lý giải như là sự mặc khải đức tin, làm cho đêm dài lịch sử cấm hành đạo của vương triều xưa phần nào bớt tối đen.

Bóng đêm thời đại và lịch sử đổ xuống dân tộc và tất nhiên nó cũng đổ bóng xuống số phận con người. Đi tìm cái đã mất trong mơ hồ, mông lung, Nguyễn Một đã xục xạo, lục tung cả quá khứ bi buồn. Hành trình tìm kiếm cho một kết quả không rõ ràng cụ thể, "Bay về phía mặt trời" chỉ thấy hình ảnh đã mất hiện về thấp thoáng chập chờn, méo mó, nhưng cũng kịp gieo vào lòng người đọc niềm tin hi vọng với cái kết truyện… sáng bừng lên.

Nguyễn Một đã sử dụng thi pháp gì trong tiểu thuyết "Ngược mặt trời"? Thật khó nói! Ông gọi tác phẩm của mình dưới hình thức thể loại: tiểu thuyết rời rạc. Kỳ lạ! Rồi ông đề từ: "Cuốn sách này có thể làm phiền bạn vì câu chuyện hoang đường và những mảnh chắp vá rời rạc của cuộc đời, như giấc mơ buồn mà sau khi tỉnh dậy bạn không thể kể lại một cách trọn vẹn". Quả thật, dù người đọc có năng lực khái quát, tổng hợp bỏ công đọc tiểu thuyết "Ngược mặt trời" nhiều lần, cũng không thể kể lại một cách rõ ràng, rành mạch và đầy đủ. Tôi đồ rằng chính Nguyễn Một - cha đẻ của thiên tiểu thuyết này cũng đâm nản, bất lực với đứa con tinh thần của mình trong việc truyền đạt những câu chuyện chắp vá, rời rạc do ông cố tình làm phức tạp, và tản mạn vô cùng. Không phải loại tiểu thuyết chương hồi Minh - Thanh, cũng chẳng phải thuật viết đang "thời thượng" liền tù tì từ bắt đầu đến chấm hết, Nguyễn Một khai triển 22 tiểu mục lớn nhỏ làm cái khung sườn "Ngược mặt trời". Có cảm giác các mục ấy rời ra, với các câu chuyện lộn xộn tản mát, với các nhân vật khác nhau về thời đại, không liên hệ với nhau, hoặc ràng buộc lỏng lẻo; nhưng thực ra chúng kết nối với nhau thật chặt chẽ trong một không gian huyền sử và thấm đẫm tôn giáo: Mặc khải đức tin. Mặc khải thánh thế. Mặc khải bóng tối. Mặc khải trừng phạt. Khổ nạn và đức tin... Không gian nghệ thuật mang đặc trưng Thiên chúa giáo (xứ đạo Hòa Bình, đan viện, mùa vọng…), nhiều nhân vật (Mẹ Têrêsa, Mátthêu Lê Văn Gẫm, nữ tu Hoàng Lan…) cũng mang đặc tính Thiên chúa giáo. Cái không gian tâm linh này trộn lẫn với không gian huyền ảo, hoang đường (Tháp cổ bỏ hoang, bầy heo vàng, kho của dưới lòng hoang tháp, lốc cuốn vòi rồng…) chính là cánh rừng liêu trai kì bí để Nguyễn Một chơi trò cất giấu hiện thực rồi tìm kiếm…

Đọc thiên tiểu thuyết "Ngược mặt trời" không cảm thấy tẻ nhạt, uể oải, chán nản, bởi "ngôn ngữ" tiểu thuyết biến hóa liên tục: nhanh, chậm, chói gắt, dịu dàng, da diết. Nguyễn Một phức tạp hóa tiểu thuyết để vượt thoát giản đơn cũ mòn cũng có hiệu quả nghệ thuật đáng trân trọng. Khi thì là một câu chuyện hiện thực: "Ký ức chạc chìu", "Âm thanh cuồng vọng", "Vô thần"; khi lại là một thế giới nghệ thuật kì ảo: "Con mắt khác", "Thế giới khác", "Linh hồn hoang tháp"… Nhân vật không bình thường: Chín Toàn bị lốc cuốn lên trời, rơi xuống bị mù, nhưng ông có khả năng thấu thị cõi âm, trò chuyện với người âm. Mẹ Têrêsa với những giấc mơ huyền bí đối thoại với cha Bá Đa Lộc. Nguyễn Chạc mộng du, nghe người lính chết trẻ của hai phía kể chuyện và dạo chơi. Cô gái là oan hồn từ bào thai lớn lên như một nhân vật liêu trai.

Thi pháp "Ngược mặt trời" biến hóa sinh động còn thể hiện ở sức dung nạp, chứa đựng nhiều thể loại nghệ thuật trong một cơ thể tiểu thuyết. Thời gian nghệ thuật luôn đảo lộn, không gian nghệ thuật luôn cơi nới, mở rộng và thay đổi, người đọc bị ngợp trước các cánh đồng hiện thực và chân trời kì ảo với các nhân vật cũ - mới, hoặc nhân vật liêu trai.

Giọng văn Nguyễn Một da diết, có sức vang ngân. Dường như trong mỗi đoạn văn, câu văn đều trĩu nặng cái tình người viết.

Đi "Ngược mặt trời" là một thử thách mới, tôi nghĩ nhà văn Nguyễn Một đã vượt qua sau những ngày nhọc nhằn vắt óc ra từng con chữ. Còn bây giờ là đến lượt bạn đọc, đi hết hành trình "Ngược mặt trời" hay không cũng là một thử thách không nhỏ

Sương Nguyệt Minh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).