Nguyễn Bảo Chân - "Bóng của ý nghĩ"

"Bóng của ý nghĩ" (NXB Thế giới, 2022) là tập thơ thứ tư của nhà thơ Nguyễn Bảo Chân. Trong tập này có đôi bài Nguyễn Bảo Chân viết từ thời còn khá trẻ vẫn được "đặc cách" xuất hiện.

Chính xác là hai bài: "Sông Đáy" và "Phận mây", đều đã in trong tập "Chân trần qua vệt rét" của hai mươi ba năm về trước. Tôi phải để từ "đặc cách" trong ngoặc kép, vì thường thì các nhà thơ không đưa bài của tập cũ vào tập mới, trừ khi làm thi tuyển, nên nếu dùng lại ắt phải có chủ ý. Cái chủ ý ấy, theo tôi, không nằm ở ham muốn hồi cố một vài dư ảnh thời hoa niên của tác giả, mà nằm ở việc: hai bài "Sông Đáy" và "Phận mây" rất khớp với cấu trúc tổng thể của cả tập thơ, chúng ở đó, góp phần tạo nên sự liền mạch của một chuyến tàu thơ xuôi theo dòng tâm tưởng.

"Sông Đáy" được đặt trong chùm bài đầu tập thơ, chùm bài giăng mùng ký ức những nơi chốn từng gắn với tuổi nhỏ và tuổi trưởng thành, những nơi chốn ấm bóng cha dáng mẹ, những nơi chốn vẫn vang lên các âm thanh và sắc màu ngày cũ: Hải Phòng, Hà Nội, Hà Tây (cũ), Hội An, Berlin, Paris, Copenhagen... Còn "Phận mây" lại được đặt ở chùm bài cuối tập, chùm bài mang âm hưởng trở về - "Trở về" cũng là nhan đề bài thơ khép lại cả tập - trở về ở đây, là trở về với thực tại và hiện tại, bằng tất cả những trải nghiệm đời và những trăn trở suy tư về mọi sự người: đau khổ và hạnh phúc, vụt tắt và bừng sáng, mất mát mà vẫn không thôi hy vọng yêu tin.

untitled-1.jpg -0

Bài "Sông Đáy" được gói gọn trong mười câu thơ năm chữ: "Giọt mưa về sông Đáy/ Còn tơ tưởng cõi xa/ Đáy sông màu tháng Ba/ Hoa gạo nhưng nhức đỏ/ Đáy sông ướt bầu trời/ Chật nỗi niềm mây gió/ Ta vấp sông để lỡ/ Tan nhòa vào bóng cây/ Ta vớt ta mà vỡ/ Đầy sông Đáy trên tay".

Điều thú vị của bài thơ, theo tôi, khởi phát từ phép đảo ngữ: sông Đáy/ đáy sông. Từ "sông Đáy" đến "đáy sông" đã mở ra cả một không gian rộng lớn thăm thẳm giữa bầu trời với mặt nước và còn hơn thế nữa. Đáy sông như mặt gương phản chiếu mọi ảnh xạ: trời mây, hoa gạo, bóng cây. Rồi đến lượt nó, đáy sông thu vào chỉ còn là một vốc nước trong lòng bàn tay, mà soi vào đó "ta" nhận thấy chính "ta", là một và cũng là tất cả: một giọt mưa và cả một dòng sông mênh mông.

Bài "Phận mây" cũng vậy, chỉ bốn cặp lục bát, dù chia nhỏ xuống hàng thì đọc lên vẫn cứ là lục bát: "Cũng đành mắc nợ trời xanh/ trả bao nước mắt/ chẳng thành trăm năm/ phải duyên/ thì ngược lên ngàn/ vấn vương với núi/ thở than với rừng/ rời non/ an ủi cánh đồng/ hóa mưa tình tự/ nặng lòng đất đai/ đền cho biển thẳm sông dài/ phận mây dù có lạt phai/ cũng đành".

Những phiên bản của nước: nước mắt, mây, mưa, sông, biển... ở đây cứ chuyển hóa, hóa thân liên tục, tương tác với một không gian cực đại được giới hạn bằng những trời xanh, núi rừng và cánh đồng. Mở đầu là "cũng đành" mà kết thúc cũng "cũng đành", cái tự sự của phận mây trong bài thơ là một niềm kiêu hãnh lớn lao ẩn sau vẻ cam chịu. Tôi có thể mạnh dạn nói rằng, giống như bài "Sông Đáy" - tự sự của giọt mưa - bài "Phận mây" thể hiện một tự ý thức về sức mạnh của cái nhu nhuyễn, loang chảy, độ lượng, ôm trùm, bao dung: đó là sức mạnh của nước, tượng trưng cho thiên tính nữ.

Ở chùm bài đầu tập thơ, chùm bài mà tôi tạm đặt chủ đề là "những nơi chốn dệt thành ký ức", ta thấy một Nguyễn Bảo Chân đắm mình trong nhớ - nhớ thời gian, nhớ không gian, nhớ những gương mặt, nhớ những âm thanh, nhớ những sắc màu và những chuyển động - để kiếm tìm chính mình.

Chị tìm về Hải Phòng, thành phố mà chị đã sống suốt quãng tuổi thơ với mẹ, một nữ nghệ sĩ rất nổi tiếng của đoàn kịch Hải Phòng lừng danh trong những thập kỷ 70, 80 của thế kỷ XX. Để thấy lại hình ảnh: "Căn gác chín thước vuông/ đầy ắp sách/ và những ước mơ chật chội lòng thuyền/ nơi chỉ hai mẹ con ta/ mải miết dong buồm/ biển sóng cả/ mịt mờ bờ bến", và để nghe lại âm thanh: "cây guitar đầu tiên/ ngón vụng về/ rơi những hợp âm/ nốt thăng nốt giáng rối bời/ mẹ gỡ/ dây đàn đứt/ hộp đàn đã vỡ/ con gẩy câm từng kỷ niệm vang" (Hải Phòng, Mẹ và Tôi).

"Gẩy câm từng kỷ niệm vang" là cách diễn đạt rất tinh tế về sự lên tiếng của ký ức. Tuy nhiên, ở chùm bài đầu tập thơ này, tôi lại đặc biệt chú ý đến hai bài: "Sen mình" và "Tơ lòng". Phép ẩn dụ ở cả hai bài thơ cho ta hiểu sen là sen mà sen cũng là mình/ tôi/ ta/ chủ thể trữ tình. Nói tơ lòng, là từ tơ sen. Và nói sen mình, là sự khẳng định sen chính là mình. (Trong phiên bản tiếng Anh của bài thơ này, "Sen mình" = "My Lotuses" = "Sen của tôi", ý nghĩa đã thu hẹp rất nhiều). "Hà Nội sen/ mình tràn phố/ tung tẩy đương thì/ sắc hồng/ sắc trắng/ chớp bừng nụ hoa/ khép nỗi thầm/ vồi vội mùa/ đi thơm lòng gốm rạn" (Sen mình). Nhà thơ vừa thưởng sen vừa hóa thân vào sen, để khoe sắc, khoe hương, mê đắm.

Nhưng mặt khác: "Rưng rưng hồ gió/ ràn rụa hương/ sen tỏ cùng trời thắm/ cuống quýt chiều/ hắt bóng/ sen khép lòng đất thẳm/ những giấc mơ sen cất tận đáy bùn" (Tơ lòng). Câu thơ "những giấc mơ sen cất tận đáy bùn" gợi lại mấy câu kết của bài "Hải Phòng, Mẹ và Tôi": "Con ra khơi/ đã đắm, đã chìm, đã bơi, đã lặn/ tận đáy những đại dương/ học làm nốt lặng/ cuối bản giao hưởng nổi sóng". Đó là một sự lựa chọn cách thế tồn tại, một thái độ sống. Nó không phải là sự khiêm nhường, mà như tôi nói ở trên, nó là "một niềm kiêu hãnh lớn lao ẩn sau vẻ cam chịu". Niềm kiêu hãnh của một người nữ, một nhà thơ nữ.

Tôi không chắc lắm điều này có liên quan gì đến những nội dung nữ quyền luận mà nhiều người hiện nay đang rất quan tâm. Nhưng tôi chắc, tự trong sâu thẳm, Nguyễn Bảo Chân là một người phụ nữ luôn yêu quý, trân trọng và tự hào về bản thân mình, bất chấp thế giới bên ngoài có như thế nào, vậy nên thơ chị không cần phải là "sự chuyển ngữ từ đêm đen và bóng tối", như một ý của Marguerite Duras.

untitled-3.jpg -0
Tác phẩm mới của nhà thơ Bảo Chân.

Ở chùm bài cuối tập thơ, chiếm già nửa tập, mà tôi tạm đặt chủ đề là "trở lại với thực tại và hiện tại", thơ Nguyễn Bảo Chân trở nên giàu suy tưởng và đậm màu sắc triết lý hơn, không phải triết lý trừu tượng, mà triết lý bằng những hình ảnh rất cụ thể.

Ví như, chị viết về sự hư vô của tồn tại người trong thời gian: "Dừng bên sông quen/ Nước sông vẫn lạ/ Soi lòng sông yên/ Đáy trời sóng cả/ Quá khứ tuột rơi/ Lẫn vào gió bụi/ Đãi cát tìm ta/ Nhặt về viên cuội" (Mình xưa, chốn cũ). Và nữa: "Người đàn bà ướm mình lên cát ướt/ cát chạm mi dằm dặm/ cát lùa môi mằn mặn/ cát vuốt mươn mướt/ Nàng duềnh lên/ tan vào biển/ tìm thuyền/ Dấu nằm bỏng rát/ sóng xóa vết nàng/ ai nhớ" (Dấu nằm).

Ai đó đã nói Trái đất chưa bao giờ là nơi chốn an toàn cho cuộc sống của con người. Nhưng dù vậy, chúng ta cũng chỉ có Trái đất là nơi chốn duy nhất để thực hiện cuộc làm người của mình mà thôi. Nơi đó có nỗi buồn và niềm vui, có mất mát và hy vọng, có tủi nhục nhưng cũng có cả sự hân hưởng và kiêu hãnh làm người.

Nguyễn Bảo Chân làm một vệt ba bài thơ hay về tiểu chủ đề này: "Những cánh rừng", "Những chiếc lá đang thở", "Những bông hoa không màu", trong đó tôi đặc biệt chú ý đến bài "Những cánh rừng", với những đoạn: "Chúng tôi ngồi/ yên lặng trong phòng/ giữa những đồ đạc/ từ một ngàn chín trăm mười lăm/ và có thể cũ hơn/chiếc bàn gỗ tần bì đến từ khu rừng nào/ không ai biết/ những thớ gỗ thì thầm kể chuyện/ hàng trăm năm trước/ đã có những đời cây/ đã có những cánh rừng... Chúng tôi ngồi/ yên lặng trong phòng/ Những ý nghĩ nảy mầm lặng lẽ/ trổ lá xanh thăm thẳm phận người/ Và cứ thế, mỗi phút giây/ bao cánh rừng mới lại ra đời".

Những ý nghĩ - những chiếc lá xanh - phận người, một loạt những liên tưởng nối tiếp như thế đã khiến bài thơ tựa một hành trình trở về, không chỉ là trở về với thực tại và hiện tại, mà có lẽ, là trở về với bản thể của tồn tại người.

Thơ Nguyễn Bảo Chân về cơ bản là thơ không vần. Ở giác độ chủ quan, tôi nghĩ đó là sự kế tục từ một khoảng cách rất xa thơ không vần của Nguyễn Đình Thi thời đầu kháng Pháp, trước khi diễn ra Hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc 1948. Không vần, nhưng trôi chảy nhờ nhịp, "một thứ nhịp điệu bên trong, một thứ nhịp điệu của hình ảnh, tình ý, nói chung là của tâm hồn" (Nguyễn Đình Thi, "Mấy ý nghĩ về thơ").

Mặt khác, thơ chị tuyệt đối không hô ngữ và rất kiệm việc bộc lộ cảm xúc trực tiếp, cũng như chị không cần đến những diễn ngôn thân thể hay những thi ảnh trái khoáy, gây sốc. Những câu thơ thường hay được ngắt nhỏ thành bốn, năm chữ, hoặc chỉ hai, ba chữ, chậm rãi, khoan thai, như từng ngụm cà phê người uống và chìm mình trong những giờ phút trầm tư. Những câu thơ ấy, như chính nhan đề của cả tập, chính là "Bóng của ý nghĩ" của Nguyễn Bảo Chân.

Hoài Nam

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).