Người xây dựng nhà hát opera Sydney từng là điệp viên

Joseph Bertony (14/3/1922 - 7/4/2019) là một kỹ sư người Pháp gốc Australia. Được đào tạo về kiến trúc hải quân, ông đã phục vụ trong Hải quân Pháp trong Thế chiến II, sau sự kiện Nước Pháp thất thủ, Joseph (hay Joe) làm gián điệp cho cục tình báo Pháp. Joe Bertony bị người Đức bắt giữ 2 lần và được chuyển đến các trại tập trung, nhưng cả 2 lần ông đều đào tẩu thành công. Sau chiến tranh, Joe được trao Huân chương vì lòng dũng cảm và di cư sang Australia.

Joseph Bertony làm việc với tư cách kỹ sư dân sự và đóng vai trò quan trọng trong việc thiết kế nên các kiệt tác kiến trúc đương thời, điển hình là việc xây dựng nên những cánh buồm của tòa nhà hát opera Sydney. Việc này đòi hỏi phải thực hiện hơn 30.000 phép tính thủ công với độ chính xác lên tới 1,3 cm. Những cuộc kiểm tra máy tính sau đó cho thấy Joe không mắc bất kỳ một lỗi nào. Về sau ông làm việc cho các dự án turbin gió và là người cố vấn cho các kỹ sư trẻ.

Người xây dựng nhà hát opera Sydney từng là điệp viên -0
Nhà hát opera Sydney khi mới bắt đầu xây dựng.

Những năm đầu đời và thời chinh chiến

Joe Bertony chào đời ở Corsica (Pháp) vào ngày 14/3/1922. Người mẹ mất ngay sau khi hạ sinh con và người cha đã gửi con trai cho dì và chú nuôi giùm. Ngay từ nhỏ Joe Bertony đã tỏ rõ sự đam mê toán học và học về kỹ thuật hải quân tại Saint-Tropez. Khi Thế chiến II bùng nổ, ông đã gia nhập Hải quân Pháp. Trong thời gian ở đó, người ta nhận ra năng lực tình báo của Joe và ông đã được tuyển dụng làm gián điệp.

Ngay sau khi bắt đầu làm việc tình báo, Joe đã bị quân Đức phát hiện và bắt giữ, chúng cầm tù ông tại trại tập trung Mauthausen-Gusen ở Áo. Ông bị ép làm lao động khổ sai nhưng tìm cách trốn thoát nhờ một lỗ hổng hành chính do đám gác ngục vô tình sơ hở trong lúc vận chuyển tù nhân. Joe Bertony lui vào hoạt động ẩn mình song lại bị bắt giữ ở Paris và lần này là được chuyển đến trại tập trung Buchenwald. Nhờ năng lực kỹ thuật của mình, Joe có cơ may được làm việc trong một nhà máy ngụy trang sản xuất bom bay V-1 và tên lửa V-2.

Dù không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải tuân thủ, nhưng trong suốt quãng đời còn lại Joe luôn có mặc cảm xấu hổ vì đã trực tiếp góp tay chế tạo ra những thứ vũ khí giết người đó. Khi đó những người lao động khổ sai thường nhận khẩu phần ăn rất ít ỏi, may mắn thì vớ được 1 ổ bánh mì cho ngày đó (5 người mới có 1 người nhận được bánh mì). Ông có hệ tiêu hóa tốt và thường chia phần của mình với những bạn tù khác, điều này khiếm bọn lính canh SS tức tối. Thi thoảng Joe được chuyển đến các nông trại để làm việc, ông được chỉ định làm “carotenfuhrer” hiểu nôm na là người tù nhân có nhiệm vụ trông coi các kho chứa cà rốt. Tù nhân bị cấm ăn hoa màu từ mùa màng mà họ thu hoạch, để sống sót, Joe phải luộc cỏ mà ăn. Với tư cách “carotenfuhrer”, nếu Joe Bertony cho phép tù nhân ăn cà rốt (như ông đã làm nhiều lần) thì nếu bị phát hiện cả ông và bạn tù sẽ bị lột đồ và đánh đòn. 

Sau này ông Joe Bertony kể rằng mình ăn rất ít và phải vận dụng trí thông minh thì mới sống sót được. Vào năm 1945 ngay lúc cuối Thế chiến II, khi các lực lượng Mỹ tiến hành giải phóng khu trại tập trung Buchenwald thì Joe tỏ ra rất phấn khởi. Ông nghe rõ mồn một tiếng lính Mỹ rầm rập áp sát địa đạo ngầm nơi ông bị giam cầm. Nhưng trước khi Đức đầu hàng, đám lính SS đã tập hợp các tù nhân và giải họ ra khỏi trại tập trung tiến về phía trung tâm nước Đức. Tại biên giới Séc gần các rặng núi, bọn chúng đẩy các tù nhân trên một con tàu chở đầy gia súc.

Ông Joe sau này nhớ lại: “Có một toa tàu chỉ dành cho các tù nhân phạm tội trong trại tập trung. Rồi thì bọn SS bắt đầu tống chúng tôi ra khỏi các toa tàu, đào một cái hố thật lớn, bắn chết từng người rồi đẩy họ xuống hố. Có một bạn tù đi cùng tôi và chúng tôi quyết định ăn may, lúc tàu đang chạy, chúng tôi đã nhảy khỏi tàu và rơi xuống đống tuyết ven đường ray. Chúng tôi gần như trần như nhộng cuốc bộ trong tuyết (mặc duy nhất bộ đồ trong trại khá mỏng manh), và hầu như không ăn gì suốt 10 ngày ròng rã”.

Ông Joe bồi hồi tiếp tục kể: “Khi đi qua phòng tuyến SS, chúng tôi gần như sắp chết. Vừa hay khi đó đoàn xe tăng Mỹ cũng ùn ùn tiến đến, xem ra chúng tôi chưa tận số. Tôi tách người bạn tù kia trước khi đến tiền tuyến vì cả 2 không thể cùng nhau vượt biên. Anh ta băng qua biên giới cách đó vài cây số, tìm thấy một nông trại gần tiền tuyến. Chúng tôi giữ liên lạc với nhau suốt nhiều năm - anh ấy hơn tôi 1 tuổi nhưng đã mất 10 năm trước rồi”. Joe Bertony chỉ mới nhận hồ sơ quân sự Pháp gần đây tức 70 năm sau Thế chiến II. Tướng Charles De Gaulle thuở sinh thời đã mô tả ngắn gọn về chủ nghĩa anh hùng của Joe Bertony: “sự tôi luyện dũng cảm”.

Nhiều năm sau Joe đã sử dụng chính tinh thần tôi luyện dũng cảm đó để trở thành người kỹ sư đã phát minh ra mái vòm dựng đứng, giúp hiện thực hóa việc xây dựng nên phần vỏ (mái) của Nhà hát opera Sydney. Sau này đích thân chính phủ Pháp đã trao Huân chương dũng cảm cho Joe Bertony vì những hành động sinh tồn phi thường của ông trong những điều kiện khắc nghiệt. 

Người xây dựng nhà hát opera Sydney từng là điệp viên -0
Joseph (Joe Bertony), cựu điệp viên, nhà phát minh mái vòm dựng đứng làm nên Nhà hát opera Sydney.

Nhà hát opera Sydney

Năm 1952, Joe Bertony rời châu Âu nhằm tìm kiếm một tương lai tốt đẹp hơn bằng việc chuyển đến Tây Australia và làm việc tại các mỏ uranium tại Rừng Rum (Lãnh thổ phương Bắc).  Ông sống gần Bachelor, cách Darwin độ 100 km về hướng Nam, thị trấn này được dựng lên nhằm làm nhà ở cho cánh công nhân mà chủ yếu là những ngoại kiều độc thân không có giấy tờ lao động như Joe Bertony. Lúc đó Australia đang áp dụng một chương trình cho phép công dân châu Âu cư trú vĩnh viễn nếu họ có việc làm tại nước này trong 2 năm. Joe làm kỹ sư tại Hornibrook (Queensland) - một công ty xây dựng nổi tiếng với các dự án cầu cống - do đáp ứng các yêu cầu của công ty: yêu cầu ông tới Sydney để giải quyết vấn đề xây dựng hóc búa nhất mà công ty này gặp phải, đó là làm cách nào để dựng mái vòm cho Nhà hát opera Sydney?

Ông David Evans, người được yêu cầu kiểm tra khả năng tính toán của Joe Bertony trên máy tính, sau đó quả quyết: “Có thể lập luận rằng ông Corbett Gore (giám đốc công ty xây dựng Hornibrook có thể tìm ra một người khác hoặc một nhóm người để làm những gì mà Joe đã làm, song tôi hoài nghi rằng ai có thể làm giỏi hơn Joe trong việc tạo ra những hệ thống giàn khung ống lồng, hay các xà nhà, hoặc làm hàng tá việc tại đại công trường đó. Những giải pháp khác sẽ không sánh được với sự tao nhã và thiên tài của ông ấy”.

Tại thời điểm đó ở Australia chỉ có duy nhất 1 máy tính đủ lớn để đáp ứng những yêu cầu tính toán: IBM 7090 đặt tại Cơ sở nghiên cứu vũ khí tầm xa (WRE) đặt tại Nam Australia (đây là tổ chức nghiên cứu hàng không vũ trụ và quốc phòng quan trọng mà cụ thể là liên quan đến những bước phát triển về tên lửa, hệ thống radar và chiến tranh điện tử. Thành lập năm 1955, WRE ban đầu được đặt ở Salisbury, đóng một vai trò then chốt trong nghiên cứu vũ trụ thuở ban đầu của Australia, bao gồm việc phát triển ra vệ tinh WRESAT, sau này WRE trở thành Trung tâm nghiên cứu quốc phòng Salisbury (DRCS) năm 1978).

Đầu thập niên 1960, Joe Bertony tham gia chỉ huy đại công trường Nhà hát opera Sydney (SOP). Bản thiết kế của tòa nhà có một số cánh buồm cực lớn được tạo thành từ 22.194 đoạn bê tông đúc sẵn và gây rất nhiều khó khăn trong việc xây dựng nó. Giai đoạn một của nhà hát là một cái bục có hình dáng hao hao kim tự tháp Maya. Giai đoạn hai là phần mái vòm màu trắng được bắt đầu xây dựng vào ngày 25/3/1963. Chính phần lớn những phương trình toán học do Joe viết ra đã khiến cho việc xây dựng phần mái vòm vốn cực kỳ phức tạp đã trở nên khả thi. Phải cần tới 30.000 phương trình riêng biệt mới tính ra được lượng ứng suất cần thiết. Sai số cho phép không được quá 12,7 mm trong việc ghép các đoạn bê tông lại với nhau; chỉ cần một sai sót nhỏ cũng khiến cả công trình lệch khỏi vị trí. Mọi thứ đều cong và không có mặt phẳng nào trên toàn bộ mái nhà, vì vậy mà nó có cấu trúc hình học rất phức tạp.

Các đoạn bê tông cần được cố định tại chỗ bằng nhựa epoxy và Joe Bertony quyết định rằng cần phải có một hệ thống giàn thép “vòm dựng đứng” nhằm nâng cả kết cấu trong điều kiện tạm thời. Ông Joe đã quyết định sử dụng giàn di động dạng ống lồng. Cấu trúc này không hề có các bộ phận thẳng, rất phức tạp, biên độ sai số được yêu cầu là 0,5 inch (tương đương 1,3 cm).  Các tính toán cần phải được thẩm tra về độ an toàn. Và mọi thứ do máy tính thực hiện. Đó là cỗ máy IBM 7090 tại WRE ở Woomera. Điều này chỉ được thực hiện vào ban đêm và 1 tuần cho mỗi tháng. Khi đại công trình đi vào hoạt động, đích thân giám đốc điều hành Nhà hát opera Sydney, ông Louise Herron, đã không ngớt lời ngợi ca: “Joe Bertony là một thiên tài. Nếu không có ông ấy, những cánh buồm (mái vòm của nhà hát) ngoạn mục sẽ không bao giờ biến thành sự thật”.

Người xây dựng nhà hát opera Sydney từng là điệp viên -0
Các tù nhân tại trại tập trung Buchenwald.

Cuộc đời sau này

Sau nhà hát Opera, ông Joe Bertony còn làm việc cho nhiều dự án khác cũng ở Sydney, bao gồm cầu Roseville ở Trung Cảng và cây cầu Tổ chim bắc qua sông Nepean. Joe đã hào phóng tặng các bảng tính toán trong thời gian ông làm việc cho dự án Nhà hát opera Sydney cho Bảo tàng Khoa học và nghệ thuật ứng dụng (MAAS), hiện thời chúng được lưu giữ như là một phần của bộ sưu tập Bảo tàng Powerhouse. Sau đó Joe Bertony còn tính toán rằng một mô hình từ trước đó - mô hình tham vọng hơn cả Nhà hát opear Sydney với những cánh buồm bê tông mặt phẳng - cũng có khả thi về mặt kỹ thuật. Thập niên 1990, ông Joe làm việc cho một công ty Scotland để thiết kế nên các tuốc bin gió trục thẳng đứng, và tại thời điểm qua đời, Joe đang cần mẫn làm việc cho một trang trại điện gió ở Scotland. 

Người vợ của ông Joe Bertony vốn là nghệ sĩ dương cầm kiêm vật lý trị liệu tại Hornibrook. Hai ông bà không có con cái, bà qua đời năm 2016. Thuở sinh thời, Joe Bertony là người yêu ẩm thực Pháp và thường dùng bữa tại các nhà hàng danh tiếng ở Sydney. Ông cũng quan tâm đến xe điện và thường giúp đỡ lớp kỹ sư trẻ. Joe Bertony tạ thế tại nhà riêng ở Sydney vào ngày 7/4/2019.

Phan Bình (Tổng hợp)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.