Người thiết kế địa đạo Vịnh Mốc

Ngày nay, đến thăm địa đạo Vịnh Mốc, một trong những địa đạo nổi tiếng nhất của tuyến lửa Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, được xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt, người ta được xem cuốn phim tài liệu "Vịnh Mốc một huyền thoại" có nói đến ông Lê Xuân Vi, người đã thiết kế và xây dựng địa đạo Vịnh Mốc.

Thật kì lạ, dù chỉ học cấp 3 trường làng, người con của đất đầu sóng ngọn gió nơi chiến tranh khốc liệt trong năm tháng chống Mỹ đã thiết kế đầy sáng tạo hệ thống các căn hầm mà cho đến hôm nay từng đoàn du khách trong nước và quốc tế đến đây vẫn không khỏi trầm trồ, thán phục trước sự kiên cường, bất khuất, ý chí, nghị lực và sức sống phi thường, mãnh liệt của những con người trong thời kì lịch sử đầy hào hùng và bi tráng.

Theo miền kí ức, một thời để nhớ

Chúng tôi lần theo địa chỉ khu phố 4, phường 5, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị để đến nhà người thiết kế hầm địa đạo năm xưa, ông Lê Xuân Vi. Giờ thì người thương binh già ấy đã không còn, do tuổi cao sức yếu ông mất cách đây hai năm, xa lìa cõi thế ở tuổi 87. Ông đã đi xa nhưng những người con của ông vẫn trân trọng lưu giữ những kỉ vật về cha mình. Hàng chục bằng khen, giấy khen, huân, huy chương các loại.

Từng bức ảnh đã úa màu theo năm tháng. Những trang lưu bút của người cha khi ông còn tinh mắt. Và cả những bức thư vẫn còn tươi nét mực của giáo viên, học sinh, sinh viên từ khắp các tỉnh thành trên cả nước gửi tới ông lòng biết ơn và sự ngượng mộ sâu sắc cách đây 4 năm khi ông đang còn sống trong gian nhà với anh Lê Xuân An, người con thứ ba của ông.

Ông Lê Xuân Vi thời trẻ trong quãng thời gian xây địa đạo.
Ông Lê Xuân Vi thời trẻ trong quãng thời gian xây địa đạo.

Anh Lê Xuân An đang công tác tại Viện Kiểm sát tỉnh Quảng Trị, anh chính là một trong 18 đứa trẻ được sinh ra ở hầm địa đạo Vịnh Mốc. Nhắc kỉ niệm về bố, miền kí ức xưa dội về, rõ mồn một như mới ngày hôm qua.

Năm 1967 sau khi cất tiếng khóc chào đời ở căn hầm trong địa đạo Vịnh Mốc, mẹ bồng anh cùng hai người chị gái sơ tán ra Nghệ An để tránh bom. Năm 1973, lúc này An 6 tuổi, được mẹ đưa vào Vĩnh Linh thăm cha. Đây cũng là lần đầu tiên anh nhìn thấy cha mình. Ông mặc bộ quân phục bộ đội, xanh màu của lá.

Sau hồi lạ lẫm, anh ngã vào lòng cha như giữa hai cha con như chưa từng có cuộc phân li, chia cắt. Những năm tháng sau này anh chị em trong gia đình thường được nghe ông kể về cách xây hầm địa đạo Vịnh Mốc. Trong cuộc hành quân của người lính cha anh từng đến nhiều nơi, nhưng quãng thời gian xây dựng hầm địa đạo Vịnh Mốc là dạt dào kỉ niệm, thương nhớ hơn cả.

Năm 1965, Mỹ ném bom miền Bắc rất ác liệt. Ở bờ Nam, Hạm đội 7 của Mỹ nã pháo từ ngoài biển vào, đất Vĩnh Linh bị cày nát bởi bom rơi, đạn trút trước sự hùng hậu của quân đội được cho là bất khả chiến bại, với những phương tiện quân sự hiện đại, tối tân nhất.

Trong thời gian ấy, cuộc họp quan trọng của huyện đội Vĩnh Linh xoay quanh vấn đề làm sao bảo đảm được an toàn cho bộ đội và dân quân du kích, cùng nhân dân địa phương có một số ở lại không đi sơ tán? Lúc đấy, tuyến lửa Vĩnh Linh có nhiều hầm chữ A, hầm chữ U bị bom Mỹ dội sập và khả năng bị sát thương rất lớn.

Ông Lê Xuân Vi lúc đấy là Đồn trưởng Công an Vũ trang 140, Tỉnh đội Quảng Trị, hằng ngày đi khảo sát nhiều nơi để xây địa đạo. Đến thôn Vịnh Mốc, ông thấy đất ở đây có độ kết dính cao, có thể đào sâu xuống được nên đã ra phương án chọn nơi này. Ông đã huy động những anh em trong đồn ra để đào giếng. Từ ba cái giếng đào được nối với nhau thành địa đạo.

Cách nối với nhau không bị chênh là cần phải thẳng, để làm được được điều đó người ta cắm 3 cái đèn thẳng nhau thì đó sẽ là đường thẳng. Nếu ba cái đèn không thẳng sẽ bị lệch, khuất đi.

Ở trong hầm địa đạo không chỉ là nơi tránh mưa bom, đạn lạc mà còn là nơi sinh hoạt văn hoá cộng đồng, có phòng chiếu phim, phòng họp, phòng ăn, nhà bếp, phòng tắm, nhà hộ sinh... Công dụng của địa đạo không chỉ là nơi sinh hoạt, bảo đảm an toàn cho cán bộ, quân và dân ta mà còn là nơi chứa vũ khí và lương thực ra đảo Cồn Cỏ, cách địa đạo Vịnh Mốc 30km.

Địa đạo bắt đầu được xây dựng từ đầu năm 1966 đến cuối năm 1967. Để khích lệ tinh thần chiến sĩ và dân quân ông mở cuộc thi: Ai đào được 3m một ngày thì gọi là kiện tướng, ai đào 4m một ngày thì gọi là đại kiện tướng. Vì đường hầm rất bé nên thường mỗi tổ chỉ từ 2 đến 3 người.

Một góc của Địa đạo Vịnh Mốc.
Một góc của Địa đạo Vịnh Mốc.

Ở địa đạo có nơi sâu nhất, so với mặt đất lên đến gần 30m. Chia ra nhiều tổ đào và những đường đào đấy sẽ được nối với nhau. Đất đào được ở địa đạo sẽ được cho lên xe cút kít đổ ra biển.

Nếu đổ đất một lần tại một chỗ, sẽ làm quân địch nghi ngờ. Để che mắt máy bay của địch, người dân của đất Vĩnh Linh đã đổ đất đỏ ấy ra nhiều nơi gần sát với biển, rồi lấy cát lấp lên trên, khi thuỷ triều dâng, sóng biển xô vào và mỗi lần như vậy sẽ cuốn đất từ từ ra biển, quân địch không thể phát hiện. Công việc nấu nướng phải nghĩ cách, ở phía trên bếp ông cho trải lớp lá dầy, khói mỗi lần toả lên qua những kẽ hở li ti của lá, toả dần từng tí một ra ngoài. Ở hầm địa đạo gian bếp là nơi nấu ăn cho rất nhiều người.

Làm thế nào để gạo không bị mốc, vì cho gạo xuống hầm không khí ẩm ướt sẽ làm gạo bị hôi. Ông cho đục những thân tre khoét rỗng ruột ở trong. Những thân tre được nối lại với nhau với độ dài 15 m thông từ phía trên ở bên ngoài xuống căn bếp.

Sau khi dùng xong sẽ có nắp đậy và dùng khoá khoá lại, như vậy vừa bảo đảm an toàn và tiết kiệm thời gian không phải mỗi lần lấy gạo lại phải chạy lên, chạy xuống nhất là trong lúc giặc ngày nào cũng điên cuồng trút bom dội đạn xuống vùng đất này.

Vĩnh Linh có rất nhiều địa đạo, sau này người ta thống kê, chỉ riêng vùng đặc khu Vĩnh Linh đã có tất cả 114 địa đạo, nhưng chỉ duy nhất địa đạo Vịnh Mốc là được công nhận là Di tích lịch sử Quốc gia đặc biệt, có lẽ vì quy mô và tầm cỡ của nó.

Trong thời gian đào hầm thì ở địa phương, máy bay địch bắn phá rồi đất văng tung toé, núi lở, cây ngã, nhiều cửa hầm bị bịt kín. Riêng địa đạo Vịnh Mốc ông cho xây 13 cửa hầm, 7 cửa hầm thông ra biển, 5 cửa hầm thông lên đồi, đề phòng nếu chẳng may cửa hầm này sập còn có cửa hầm khác.

Cửa hầm thông ra biển, tiện lợi cho việc vận chuyển vũ khí và lương thực ra đảo Cồn Cỏ. Ngày nay, một số cửa hầm theo thời gian đã bị lấp, nhưng vẫn còn đó chứng tích về điều huyền diệu, mầu nhiệm đã làm nên một địa đạo ăn sâu vào lòng đất như bản anh hùng ca bất tử và vô tận. 

Vững tay súng, chắc tay chèo đi về nơi có ánh sáng

Cả cuộc đời ông gắn bó với vùng đất oằn mình hứng chịu bom rơi đạn trút của quân thù. Vùng đất thấm đẫm máu xương của những người con kiên cường bám trụ, gan dạ đất Vĩnh Linh, nơi địa đầu tuyến lửa.

Năm 1972, là thời kì mảnh đất này chịu hàng vạn tấn bom lớn nhỏ các loại, chất độc diocin trải thảm xuống chiến trường Quảng Trị. Trong một lần làm việc tại giới tuyến sông Bến Hải, dòng sông ngăn cách Nam -  Bắc, ông bị hai mảnh đạn văng vào đầu.

Vợ chồng ông Lê Xuân Vi.
Vợ chồng ông Lê Xuân Vi.

Cũng trong cùng năm ấy, chiến trường ngày một dữ dội và khốc liệt, phía Nam là huyện Gio Linh, quân đội Mỹ và quân đội Việt Nam cộng hoà chiếm đóng, phía bắc là huyện Vĩnh Linh xây dựng đất nước theo XHCN, đơn vị của ông phối hợp với đơn vị bộ đội đi Gio Linh đánh chiếm Dốc Miếu, không may ông đã bị thương ở mạn sườn. 

Năm 1973 ông được phân công công tác Đồn trưởng đồn Công an Vũ trang giới tuyến Cửa Tùng. Năm 1974 ông chuyển về làm Tham mưu trưởng Công an Vũ trang tỉnh Quảng trị. 

Năm 1976, sau khi thống nhất đất nước và hoà bình lập lại trên quê hương, 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế sáp nhập thành Bình Trị Thiên, ông về làm Tham mưu trưởng công an Vũ trang Bình Trị Thiên. Năm 1979 ông giữ chức Huyện đội trưởng huyện Hương Hoá và công tác cho đến năm 1984 thì về hưu.  

Năm 1986 ông được bầu là Chủ tịch Mặt trận Phường 5, thành phố Đông Hà. Lúc này đây mắt ông bắt đầu mờ và yếu dần do di chứng vết thương, trúng viên đạn trên đầu vào mùa hè năm 1972 khi xưa. Năm 1988, mắt ông đã gần như không còn nhìn thấy gì và sau này ông đã đứng ra thành lập Hội người mù tỉnh Quảng Trị. Năm 1995 ông được bầu làm Chủ tịch Hội người mù của tỉnh Quảng Trị.

Tuy sức khoẻ có yếu đi, song tinh thần lạc quan, ý chí mạnh mẽ được tôi luyện như thép trong chiến trường khói lửa năm xưa, khiến cho ông vui sống trong suốt những năm tháng sau này.

Ông vẫn nhớ da diết cái thời khói lửa ngày xưa đào hầm địa đạo. Nhiều nhà báo đã tìm đến căn nhà nhỏ ở phường 5 để nghe ông kể về một thời kì hào hùng đó. Sau khi những bài báo đó in ra, ông nhận biết bao lá thư chan chứa yêu thương của bạn đọc trên mọi miền của Tổ quốc gửi về với sự ngưỡng vọng sâu sắc. Cuộc đời ông là một nốt nhạc đẹp thánh thót, ngân vang nhưng cũng đã có những lúc rất trầm lắng.

Đó là năm 1951, sau khi lấy vợ, người lính trẻ Lê Xuân Vi phải tạm xa vợ mới cưới lên đường đi chiến đấu. Từ năm 1951-1953 ông là chiến sĩ thi đua giết giặc lập công của Quân khu IV, ông được cử ra Nghệ An để học lớp đặc công.

Trong thời gian này người vợ và đứa trẻ mới chào đời bị cơn sốt rét ác tính cướp đi sinh mạng. Đau đớn khôn nguôi, 10 năm sau ông mới nên duyên vợ chồng với người con gái thôn nữ Vĩnh Linh, Nguyễn Thị Thiệp. Họ đã cùng nhau đi suốt cả quãng đường dài. Bà lần lượt sinh cho ông 5 người con, 2 gái và 3 trai.

Anh Lê Xuân An đang lần giở những bằng khen, giấy khen về chiến công của cha mình.
Anh Lê Xuân An đang lần giở những bằng khen, giấy khen về chiến công của cha mình.

Trong nhiều lá thư gửi cho ông, tôi vô tình rút ra, đọc lá thư nắn nót viết tay của một học sinh từ TP Hồ Chí Minh gửi cho người thương binh già có đoạn viết: "Chúng con may mắn là thế hệ được sinh ra và lớn lên trong thời bình, chúng con vô cùng biết ơn những người lính đã chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, góp sức mình vào công cuộc xây dựng đất nước. Chúng con không được phép quên và sống lãng quên một thời oanh liệt hào hùng như thế. Con rất kính phục bác với điều bác nói rằng sự khen thưởng lớn nhất là địa đạo Vịnh Mốc đã cứu được hàng ngàn người...".

Giờ thì ông và bà vi vu về một nơi xa lắm. Nhưng, những gì ông để lại cho đời là một kí ức đẹp, một trang sử với chiến công của người lính khi xưa trong trận mạc. Họ đã kề vai sát cánh trong cuộc chiến tranh sinh tử nơi mảnh đất thấm đẫm huyền thoại thời chống Mỹ cứu nước đầy gian khó.

Trần Mỹ Hiền

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.