Người lính Công an lưu giữ hồn xưa Tây Nguyên

Câu chuyện bắt đầu từ hơn 40 năm trước, khi ông Đặng Minh Tâm - một sĩ quan của Bộ Công an được điều động biệt phái lên Tây Nguyên tham gia bảo vệ an ninh buôn làng, “ba cùng” với đồng bào.

Ngoài nhiệm vụ được giao, ông còn làm một việc mà nhiều người cho rằng “không bình thường”. Đó là niềm đam mê sưu tầm những hiện vật của đồng bào Tây Nguyên. Lúc nào, ông cũng băn khoăn, không biết đến một ngày nào đó trong tương lai sẽ không còn được bảo tồn, gìn giữ.

Ông dành thời gian học tiếng nói của đồng bào, hỏi han các Già làng Trưởng bản, những trí thức của buôn làng, các vị linh mục, giáo dân; những người am hiểu các hiện vật; ghi chép cẩn thận đến từng chi tiết. Sự chịu khó, chịu thương ấy đã làm giàu lên trong ông một gia tài báu vật Tây Nguyên mà không phải ai cũng có được.

Có những khi, ông phải nằm ngủ ngoài nhà mồ của đồng bào Tây Nguyên, vừa lạnh, vừa run, vừa sợ. Đêm Tây Nguyên lạnh buốt, có khi gió giật từng cơn. Sợ lạnh một phần, nhưng bóng đêm làm cho người ta cảm giác ớn lạnh. Những năm tháng ấy, kẻ xấu ở Tây Nguyên gây bao tang tóc cho buôn làng. Lực lượng Công an cũng trở thành mục tiêu của chúng. Ngủ ở trong buôn làng, không biết có an toàn không, tuy ông rất giỏi về công tác “dân vận”, nhưng vẫn lo lắng. Có nhiều đêm truy kích địch, nằm bên những ngôi mộ, thậm chí những nấm mộ vừa mới chôn; mùi phân hủy của tử thi. Nhưng ông vẫn tự an ủi mình: Địch không dám đi qua các nhà mồ vì chúng sợ thần linh, chúng sẽ không dám xâm phạm, thì chắc chắn nơi đây là nơi “trú ẩn” an toàn nhất.

nhà nghiên cứu dân gian đặng minh tâm.jpg -0
Nhà nghiên cứu dân gian Đặng Minh Tâm.

Cũng từ những lần như thế, bỗng dưng ông muốn đi sâu tìm hiểu các nhà mồ ở Tây Nguyên, các tượng gỗ được dựng lên quanh các ngôi mộ ở nhà mồ và ý nghĩa của nó như thế nào. Ông biết thêm, mỗi dân tộc ở Tây Nguyên, mỗi dân tộc có nhà mồ kiểu của dân tộc mình. Có ngôi mộ chỉ có vài tượng nhà mồ; có ngôi mộ rất nhiều tượng nhà mồ cao thấp khác nhau; có ngôi mộ cũng có nhiều tượng nhưng bằng nhau… Chính nhờ vậy mà ông có rất nhiều thông tin, kiến thức về Tây Nguyên trong bộ sưu tập của mình.

Tôi đã có nhiều chuyến đi điền dã cùng ông, càng hiểu hơn sức làm việc của ông. Nhất là khi khai thác thông tin, ông ghi chép, ghi âm cẩn thận. Ông đối chiếu, kiểm chứng để có những thông tin thật chính xác. Là người cẩn trọng, xã giao rộng, chỉn chu trong quan hệ và cũng được nhiều duyên may trong quá trình đi thu thập, sưu tầm tư liệu. Già làng, Trưởng bản, Linh mục, giáo dân, bà con đồng bào… đều dành cho ông sự tin cậy đặc biệt. Ông có nguyên một bộ ghế làm bằng xương voi do một người vốn là quan chức của một tỉnh ở Tây Nguyên trước đây trao tặng cho ông. Ông hiểu rất rõ ràng việc chăm sóc nuôi voi, bắt voi con, cách tính số lượng voi như thế nào.

Không chỉ dừng lại việc sưu tầm tượng nhà mồ, ông nghĩ đến các loại tượng sinh hoạt của đồng bào. Tượng gỗ của các dân tộc Tây Nguyên được nghệ nhân tạc trên chính một thân cây, một khúc gỗ.

Các hình ảnh, con vật, sừng trâu, chim, cá, voi, hoa văn… đều được tái hiện trên đó. Tượng gỗ Tây Nguyên không có chuyện đấu thêm một thân gỗ khác đi kèm. Ông Đặng Minh Tâm lý giải: Với các dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên là việc hình thành nên một tượng gỗ thường được chế tác trên một thân cây nguyên khối và được thể hiện rất rõ tượng này chồng lên tượng kia. Nói về vòng đời của con người, thì ngay từ dưới lên là tượng chàng trai cô gái yêu nhau, phụ nữ có bầu, sinh con, đội lên đầu, cho đến khi con trưởng thành. Kể về chu kỳ gieo lúa, gặt lúa, thu hoạch được mô tả chi tiết từ khi cắt cỏ, phát rẫy, chọc lỗ tra hạt, gặt lúa, gùi lúa và tổ chức lễ mừng lúa mới… đều được chế tác thành tượng và xuyên suốt từ dưới lên trên trong một thân cây và không được chắp nối, lắp ghép.

Khi đề cập đến tượng gỗ của người Ba Na, ông Đặng Minh Tâm cho rằng: Tượng gỗ của người Ba Na rất đơn giản, chỉ cần thể hiện những đường nét cơ bản nhất như mặt người được vạt phẳng, sống mũi nhô cao, mắt và miệng được nhấn sâu vào trong, lỗ tai luôn có hình dạng chữ C. Tượng gỗ của người Gia Rai thì trên khuôn mặt đã có khấc ở trán và mắt để tạo điểm nhấn cho chân mày. Trong khi đó, tượng gỗ các dân tộc Nam Tây Nguyên như K’Ho, Mạ, STiêng… các chi tiết được mô tả thực hơn. Tượng gỗ Tây Nguyên là vậy.

Ông còn đào sâu nghiên cứu các loại nhà sàn, các đồ dùng phục vụ sản xuất, trồng trỉa, chăn nuôi, bắt cá; đồ dùng sinh hoạt gia đình của các dân tộc Tây Nguyên một cách tỉ mỉ, hiếm thấy ở những nhà nghiên cứu khác.

Riêng nhà sàn, tại khu triển lãm Thiên đường Tây Nguyên, ông Đặng Minh Tâm đề xuất phục dựng 5 ngôi nhà truyền thống của các dân tộc Tây Nguyên được làm bằng gỗ, tre, nứa, lá, như nhà dài của người Ê Đê, nhà rông của người Xê Đăng, nhà sinh hoạt của người K’Ho, nhà rông và nhà sàn của người Ba Na. Những ngôi nhà này được phục dựng như nguyên mẫu vốn có của nó, do chính những nghệ nhân của các dân tộc này thực hiện.

Ông chú ý đến công cụ sử dụng của những chiếc gùi; các loại hoa văn được đan xen trên đó. Ông nghĩ đến các loại xà gạc khác nhau. Chiếc xà gạc nào đóng vai trò Tù trưởng, Già làng, Trưởng bản. Vai trò, chức năng của dụng cụ ấy là gì. Xà gạc nào để dùng đi săn thú, đi phát cây rừng… đều được ông lưu ý cụ thể.

Khách tham quan hết sức thú vị khi được ông giải thích cặn kẽ những cây nêu của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên. Hóa ra, không phải cứ có cây tre dựng lên, cây gỗ vươn lên trời cao trong các mùa hội là cây nêu. Cây nêu rất có ý nghĩa trong đời sống tâm linh của người Tây Nguyên; cũng như người Việt trước đây sử dụng cây nêu trong ngày Tết đến, xuân về.

Khu trưng bày hiện vật của ông được bày biện rất khoa học. Ông chia hiện vật thành nhiều nhóm, bao gồm nhạc cụ, văn hóa tâm linh tín ngưỡng; các nghi thức lễ hội, dụng cụ dùng để săn bắn, trang phục thổ cẩm truyền thống, công cụ sản xuất, công cụ phục vụ sinh hoạt gia đình… giúp cho khách tham quan dễ hiểu, dễ nhớ. Khách tham quan rất thú vị khi thấy nhiều nhạc cụ như cồng, chiêng, đàn đá, các loại đàn Goong, K’ní, Klông Put, Pưng pêt, các mặt trống được làm từ da của nhiều thú rừng như voi, trâu, nai, trăn… được trưng bày ở đây.

nơi biễu diễn trang phục các dân tộc t6ay nguyên bên hồ xuân hương (đà lạt).jpg -0
Nơi biễu diễn trang phục các dân tộc Tây Nguyên bên hồ Xuân Hương (Đà Lạt).

Một điều ít ai biết rằng, ông là một nghệ sĩ thực thụ, khi ngày đêm một mình lặng lẽ âm thầm sáng tạo ra hàng trăm tác phẩm điêu khắc bằng gỗ. Mỗi bức tượng là mỗi linh hồn được ông tái tạo với tư duy của người nghệ sĩ. Những tác phẩm bằng gỗ của ông không chỉ là tượng, mà ông đã thổi vào đó những nghĩ suy về đời sống của con người, thân phận của con người và mang nhiều ý nghĩa hiện thực đậm nét nhất.

Ông Đặng Minh Tâm là người luôn cầu thị và biết lắng nghe. Những điều chưa hiểu rõ ràng, cặn kẽ là ông tìm thầy lĩnh giáo. Các nhà nghiên cứu, giáo sư nhạc sĩ như Giáo sư, nhạc sĩ Trần Văn Khê, ông Tô Ngọc Thanh… đều từng đến nhà ông tham quan, xem xét, đánh giá và ghi nhận những đóng góp của ông trong việc bảo tồn, gìn giữ văn hóa các dân tộc Tây Nguyên.

Một không gian được mệnh danh là “Thiên đường Tây Nguyên” do nghệ nhân, nghệ sĩ Đặng Minh Tâm sưu tầm và trưng bày bên hồ Xuân Hương (Đà Lạt) là một điểm đến thú vị thu hút khách tham quan không phân biệt tuổi tác, nghề nghiệp… đến từ trong nước và nước ngoài. Nhiều tiến sĩ, nhà nghiên cứu về dân tộc học ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh, thành phố trong cả nước có dịp ghé qua tìm hiểu, lắng nghe và đặt ra nhiều câu hỏi cho ông Đặng Minh Tâm giải thích, trình bày… Khách tham quan rất hài lòng về những điều ông tâm sự, thổ lộ. Đó là thành công bước đầu của một người nghiên cứu về dân tộc ở tỉnh lẻ, bao giờ ông cũng “thòng” một câu dễ thương “có gì không phải, xin được chỉ giáo”. Và “phần trình bày của tôi đến đây là… hết”.

Càng đi, càng ngắm, càng hiểu hơn những gì mà ông Đặng Minh Tâm - một sĩ quan Công an nhân dân Việt Nam đã dành tâm huyết cả cuộc đời của mình để mang đến cho công chúng được “mắt thấy, tai nghe” về những báu vật Tây Nguyên; để góp phần lưu giữ, bảo tồn các giá trị văn hóa đặc sắc, đa dạng, phong phú của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên.

Trần Ngọc Trác

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).