Người làm trống thiêng

Lý Phủ Quyện, người đàn ông dân tộc Dao đỏ vạm vỡ thô mộc, cứng cáp và hiền lành chân chất thơm thảo như cây pơ - mu nơi dải đất miền biên viễn xa xôi bảo: "Ầy dà! Người bản xa làng gần người ta nói về mình như thế cũng đúng. Ở cái bản Sà Chải của xã Tà Phìn, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai giờ đây xem ra chỉ có mình theo đuổi nghề làm trống của người Dao đỏ thôi đấy!".

Sự thân thiện của chủ nhà mang lại cho tôi cảm giác tự tin: "Anh Quyện à, sao không đầu tư cho kinh tế nông trại. Hoặc kinh doanh buôn bán qua biên giới để nhanh giàu mà lại nhọc nhằn kiên trì với nghề làm trống nêm truyền thống?!".Thoáng một cái cười hiền lành, nghệ nhân Lý Phủ Quyện bật cười: "Ôi dà! Thế khách dưới xuôi tưởng rằng Lý Phủ Quyện này không thích trong túi mình có thật nhiều tiền sao? Nhiều lần mình đã toan bỏ cái nghề làm trống nêm của người Dao đỏ mà ông bà truyền lại đấy chứ!".

Bắt gặp cái nhìn nửa tin nửa ngờ của tôi, Lý Phủ Quyện mở lòng: "Mình đã từng rất muốn vay vốn Nhà nước để thuê đất trồng chuối. Không thì cây dược liệu. Hoặc cây dứa. Hay cây này cây nọ. Nghĩ đi thì thế. Nghĩ lại mình thấy, không được bỏ nghề làm trống nêm! Với người Dao đỏ mình, cái trống chính là linh hồn đấy. Linh thiêng lắm. Nó được Nhà nước công nhận là Di sản văn hóa vật thể cấp Quốc gia đấy!"

nghệ nhân lý phủ quyện.jpg -0
Nghệ nhân Lý Phủ Quyện làm trống nêm.

Câu nói nào đã kịp bay theo gió, Lý Phủ Quyện run run dùng mu bàn tay dụi vào đôi mắt đang loang loáng những nước. Để rồi ngay sau đó, Lý Phủ Quyện lặng phắc bồi hồi hướng ánh nhìn của mình về một miền xa thẳm, bảng lảng khói sương u linh, tận cùng của cõi thiêng liêng.

*

Hồi hộp chen lẫn chút cảm giác nôn nóng muốn được tận mắt chứng kiến người nghệ nhân mang cốt cách của nghi lễ truyền thống và đầy tài hoa nơi miền sơn cước "khai sinh" một chiếc trống mới nhất, đại diện cho một phần cơ bản văn hóa truyền thống người Dao đỏ, nhưng Lý Phủ Quyện lắc đầu từ chối, vẻ huyền bí: "Ầy! Hôm nay không phải là ngày được phép làm trống đâu mà!".

Nghĩ rằng chủ nhà từ chối khéo như thế là vì không muốn để lộ bí quyết nhà nghề với một kẻ lữ hành xa lạ, tôi liền mạnh dạn đặt vấn đề với Lý Phủ Quyện, mình cần mua một cái trống truyền thống của người Dao đỏ bản Sà Chải mang về xuôi làm kỷ niệm. "Muốn vậy thì để khi khác đi! - Lý Phủ Quyện cười hiền nhưng thái độ rất thành thật, dứt khoát như nhát dao chém - Không phải vì cần tiền mà muốn làm ra cái trống thiêng lúc nào cũng được đâu. Ông bà ông vải giận cho chết đấy!".

Biết là không thể lung lay được ý chí của chủ nhà, khách đành chia tay Lý Phủ Quyện trong sự hụt hẫng, nuối tiếc. Và đương nhiên, kèm theo đó là cái cảm giác rất lấy làm khó hiểu trước sự bí hiểm của người nghệ nhân thuần phác như đất và nước nơi sông cùng núi tận.

Bẵng đi một thời gian, chiều ấy, tôi bỗng dưng nhận được cuộc "alo" từ số máy nửa như lạ, nửa như quen. Thật không ngờ, đó chính là cuộc gọi của Lý Phủ Quyện. Anh bảo, nếu có thể sắp sếp được thì có mặt tại bản Sà Chải vào ngày 16 tháng 4 âm lịch. Vì hôm sau, 17-4 sẽ là ngày được phép làm trống theo truyền thống của người Dao đỏ bản Sà Chải. Còn nếu không, phải chờ tới ngày 17-7 âm lịch, tức là phải một thời gian rất lâu sau đó, người Dao đỏ mới được tiếp tục khai trương việc làm trống. Không thành văn đâu, nhưng trật tự truyền thống của người Dao đỏ là vậy, không thể khác được.

Bữa đó, Lý Phủ Quyện không quên nói nhỏ với tôi rằng, chả phải chỉ riêng với những thợ làm trống (gia đình) chuyên nghiệp phải tuân theo phép kiêng kỵ của dân tộc mình đâu. Mà ngay cả với những người muốn mua một chiếc trống thiêng của người Dao đỏ bản Sà Chải nhất định cũng phải chọn được ngày lành tháng tốt mới được phép rước trống ra khỏi nhà người bán, không tùy tiện được đâu. Xưa nay ở cái bản Sà Chải này, nếu không ứng xử một cách văn hóa với chiếc trống thì đừng bao giờ mơ đến việc, có tiền là muốn gì được nấy.

Lý Phủ Quyện trân trọng khoác vào người bộ y phục đẹp nhất thành kính thực hiện các nghi thức tâm linh truyền thống xin với trời - đất, tổ tiên cho mình được phép làm ra chiếc trống đầu tiên của năm. Rồi thì, dường như cảm nhận được điều thiêng liêng vô hình nào đó, với phẩm chất bẩm sinh trời cho của một nghệ nhân Lý Phủ Quyện thật sự tự tin với công việc chế tác trống của một năm.

trống nêm người dao đỏ.jpg -0
Trống nêm của người Dao đỏ.

Chia sẻ về cái nghề cái nghiệp của mình, Lý Phủ Quyện bảo, trống thiêng truyền của người Dao đỏ có tên gọi: Trống nêm. Gọi thế là bởi, chung quanh tang trống được nêm những miếng gỗ có hình thù đặc trưng, tựa như những cánh hoa đồng nội tinh khôi. Muốn có được một chiếc trống nêm đạt tiêu chuẩn truyền thống, ngoài kinh nghiệm ra, nhất định người thợ phải có được "cái tay" và "cái tai" hơn người. Có thế mới thẩm âm một cách chính xác độ trầm bổng cần thiết của một cái trống.

Mặn chuyện, Lý Phủ Quyện thổ lộ, để chủ động cho ngày khai trương làm trống trong năm, trước đó anh đã vào rừng tìm cho được những thứ gỗ nguyên liệu "chuẩn không cần chỉnh". Nhưng không phải muốn vào rừng ngày nào cũng được. Cũng lại phải chọn được ngày lành tháng tốt mới thực hiện được nghi thức đó.

"Mình cũng phải "nhịn" gần vợ lúc đêm suốt mấy hôm nay nữa đấy!" -  Lý Phủ Quyện đỏ mặt thú nhận. Ngay sau đó, người nghệ nhân tài hoa của bản Sà Chải đưa ra kết luận trong một trạng thái xúc động lạ thường: "Cái trống thiêng là cốt cách khí chất. Nó là tâm hồn. Là văn hóa của người Dao đỏ mình mà trước khi làm ra nó, không giữ thân thể cho sạch sẽ thì trống sẽ mất thiêng, tổ tiên sẽ quở trách đấy!".

Chuyên nghiệp và đầy chất lãng mạn trong lúc căng miếng da trâu tạo mặt trống, Lý Phủ Quyện "tiết lộ", cũng vì sự thiêng liêng đặc biệt của cái trống nêm nên trong gia đình người Dao đỏ, chỉ những người đàn ông đủ phẩm chất và tư cách mới được phép làm ra nó. Việc đó hoàn toàn mang tính chất bí mật trao truyền riêng có cho cánh đàn ông mà thôi.

Lý Phủ Quyện bảo, trống nêm của người Dao đỏ có diện mạo hoàn toàn khác biệt với cái thứ cùng tên gọi của các tộc người khác. Diện mạo của trống nêm người Dao đỏ thường chỉ từ 15 - 20cm về mặt kích thước, chiều cao. Cũng bởi là trống thiêng thành ra việc chế tác được thực hiện công phu, tỉ mỉ. Này nhá, tang trống được lấy từ gỗ mít đã bị rỗng. Hoặc khoét thủng ruột, sau đó vót tròn, vót bóng xung quanh, làm sao cho tang mỏng, nhẹ nhưng vẫn bền và chắc. Mặt trống được bưng bằng da thú hình tròn có đường kính 30 - 40 cm.

Với người Dao đỏ, từ thời tổ tiên cho tới thời 4. 0 bây giờ, mặt trống được làm bằng da bò, trâu, sơn dương, sau khi đã lựa chọn kỹ càng. Và chúng phải có độ mỏng cần thiết. Da mà dày quá thì phải bào mỏng thêm mới có thể dùng được. Da được đem phơi nắng hoặc để gác bếp 10-15 ngày rồi mới đem ra dùng.

Thông thường, da mặt trống sẽ được giữ vào tang trống bằng cách đóng đinh chết vào. Nhưng da mặt trống của người Dao đỏ được giữ vào tang trống bằng cách dùng các dây mây nhỏ đan chéo nhau níu lại tạo thành một dải liên kết được nêm chặt ôm lấy mặt trống. Thứ gỗ dùng nêm chung quanh tang trống nêm, nhất định cứ phải là "cái anh" gỗ xoan mới đạt chuẩn, mới "hết ý" về chất lượng âm thanh được.

"Một chiếc trống nêm đạt chuẩn là khi đánh lên, người đứng xa vẫn nghe thấy tiếng vang. Nhưng người đứng gần không cảm thấy chói tai! - Lý Phủ Quyện thủng thẳng đưa ra nhận xét - Muốn vậy người làm ra nó phải biết gửi cái tâm, cái trí của mình vào đó thôi. Vậy nên người bản gần kẻ làng xa mới bảo, nghề làm trống nêm của người Dao đỏ mình là một phần văn hóa truyền thống của họ. Hầy! Nghe thế, nhưng mình biết chả biết có đúng không nữa!".

*

Bằng tất cả tiềm năng sáng tạo mà trời ban tặng cho người nghệ nhân chân quê và cùng với đó là hoài bão nhân văn mãnh liệt khát khao níu giữ cho bằng được một phần hồn cốt tộc người Dao đỏ của mình mãi mãi trường sinh, cuối cùng Lý Phủ Quyện cũng hoàn thành chiếc trống nêm. Đấy là tác phẩm nghệ thuật mở đầu cho một năm chế tác của anh.

Đóng vào người bộ y phục truyền thống đẹp nhất, người nghệ sĩ miền sơn cước ấy kính cẩn xin với tổ nghề và các bậc tiên tổ của dòng họ Lý cho mình thật nhiều sức khỏe cùng những khát vọng nhân văn để anh có cơ hội sáng tạo ra thật nhiều những chiếc trống nêm truyền thống, không chỉ cho riêng tộc người Dao đỏ. Bởi theo anh, trống nêm còn thì văn hóa truyền thống của bản Sà Chải của mình còn mãi. Mà đã thế thì mảnh đất nơi địa đầu đất Việt này sẽ muôn thuở vững âu vàng, ấy vậy!.

Lê Công Hội

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).