Người kể chuyện tình thành Cổ Loa bằng thơ

Đỗ Trung Lai là một người đọc rất nhiều và đi khá nhiều, kiến thức sách vở và kiến thức đời sống trong anh cứ tích tụ mãi. Bởi thế, khi anh đàm đạo về văn chương với bạn bè, cái kho kiến thức ấy được mở ra toàn những “điển tích”, những “khuôn mẫu” từ cổ chí kim làm người nghe choáng ngợp.

Trong cuộc đời văn chương của mình, tôi chơi với không ít thi nhân, nhưng không thấy cây bút tài hoa nào lại kiêu bạc và "ngang ngạnh" như nhà thơ Đỗ Trung Lai. Theo thói đời, người có tài (cũng như phụ nữ có nhan sắc), dĩ nhiên họ được phép “kiêu”, vì nếu  không tài (hoặc không có nhan sắc) thì “kiêu” với ai? Và ở một số người thơ tài năng, sự kiêu bạc trong chừng mực nào đó lại là một cá tính khả dĩ có thể chấp nhận được.

Đỗ Trung Lai là một người đọc rất nhiều và đi khá nhiều, kiến thức sách vở và kiến thức đời sống trong anh cứ tích tụ mãi. Bởi thế, khi anh đàm đạo về văn chương với bạn bè, cái kho kiến thức ấy được mở ra toàn những “điển tích”, những “khuôn mẫu” từ cổ chí kim làm người nghe choáng ngợp.

Nói thì trôi chảy như “rồng leo” mà viết thì cũng cuồn cuộn như “rồng cuốn”, sau hưu chỉ có vài năm “đóng cửa-ngồi dịch”, Đỗ Trung Lai đã hoàn thành việc dịch tổng tập các nhà thơ lớn đời Đường tới cả ngàn trang in. Sức làm việc như vậy thật đáng nể, vì thế, anh có tỏ ra kiêu bạc cũng là lẽ thường tình.

Đỗ Trung Lai sinh năm 1949, quê ở Phùng Xá, Mỹ Đức, Hà Nội, tốt nghiệp Khoa Vật lý, Đại học Quốc gia Hà Nội, từng làm lính chiến rồi làm giáo viên Trường Văn hóa Quân đội, sau về công tác ở Báo Quân đội nhân dân. Ngoài làm thơ, viết truyện, làm báo, anh còn vẽ tranh và đã được tặng nhiều giải thưởng văn học.

Theo tôi, thơ và người thơ Đỗ Trung Lai thuộc về khuôn mẫu cổ điển đã trở thành “kinh điển”. Kể cả khi anh cố tình viết theo kiểu hiện đại thì hơi văn của anh cũng nằm trong trường - thẩm - mỹ của những khuôn thước cổ điển. Những bài thơ của anh thường có một bố cục chặt chẽ và hài hòa, tứ thơ không lộ, thơ của anh giàu hình ảnh và nhạc điệu-cái chất liệu không thể thay được của thi ca truyền thống.

Nhà thơ Đỗ Trung Lai.
Nhà thơ Đỗ Trung Lai.

Trong thơ, Đỗ Trung Lai sử dụng khá nhuần nhuyễn các thể thơ 4,5,7 chữ và lục bát. Đặc biệt ở thể thơ 6 chữ, bài nào của anh cũng có một dư ba lắng đọng và hàm súc. Và dường như, ở những bài thơ thành công ở thể thơ cổ điển, Đỗ Trung Lai cố gắng không để cho hàm ý tư tưởng hiện ra một cách sống sít mà anh “hòa tan” nó đi, rồi viết một cách nhẹ nhõm, giản dị theo ngữ điệu của vài thể thơ quen biết. 

Trong nhiều bài thơ của Đỗ Trung Lai, hình tượng thi ca thường có sức biểu cảm lôi cuốn của ngôn ngữ mà vẫn chuyển tải được mạch liên tưởng của suy ngẫm với sự bộc lộ tâm trạng được phát hiện, lý giải và khái quát hóa thành hình tượng thi ca trữ tình.

Với phong cách tài hoa khá nhuần nhuyễn này, thơ của anh đã có một thứ nhạc cụ riêng, với những âm hưởng riêng không lẫn với người khác khi cảm xúc thiên nhiên và dân dã trong thơ anh thường đem lại những hình ảnh bất ngờ và khơi gợi như bài “Khúc ngâm mùa thu” dưới đây:

Ngàn năm xưa đã thu rồi
Ngàn năm sau nữa đất giời còn Thu
Chỉ lo lòng đất không mùa
Làm sao nghe được tiếng Thu dịu dàng!
Tìm đâu cho đủ hoa vàng
Để ta kết chuỗi trang hoàng cho Thu?
Tìm đâu đủ khói lam mờ
Thả vào đồng đất, bãi bờ, rừng cây?
Tìm đâu vài vạt mây bay
Để giời bớt nỗi ngày ngày thiên thanh?
Tìm đâu ra lá sen xanh
Để còn bọc cốm cho mình gửi ta?
Tìm đâu móc với sương sa
Để vai mình lạnh để da mình mềm?
Tìm đâu lá lạc bên thềm
Để than van những nỗi niềm biệt ly
Người đi hun hút người đi
Lấy gì nhàn nhã, lấy gì bằng an?
Nỗi nào khuấy mãi không tan
Càng đem chôn chặt lại càng xót thương?
Nỗi nào khiến quạ kêu sương
Khiến trăng bạc phếch dọc đường nhân gian?
Người xưa nước mắt chứa chan
Người nay đẫm lệ ôm đàn phù vân
Đàn xưa gảy khúc phong trần
Đàn nay thì cũng mấy lần đứt dây 

Thì thôi hãy uống cho say
Miệng cười khanh khách, mặt gay gay hồng
Tình đời đâu khác mà mong
Sầu chưa bán được còn mong làm gì?
Nhìn đời bẻ bút quăng đi
Mai mùa Thu tới lấy gì làm thơ?

Có người nói với tôi, nhà thơ Đỗ Trung Lai có tài kể chuyện nghe như bịa mà người nghe nhiều khi “tin đến sái cổ”. Tôi không nghĩ như vậy, nhưng gần anh mới biết, cái duyên kể chuyện cũng là một nét độc đáo của nhà thơ tài hoa này. Trong một lần ngồi uống rượu với “cổ hũ, lòng lợn” ở nhà anh, tôi được nghe Đỗ Trung Lai kể lại câu chuyện khá thú vị về “lai lịch” bài thơ “Lời Mỵ Châu” của anh.

Đỗ Trung Lai thong thả kể về chuyện một người con gái bí ẩn đã đến trong giấc mơ của anh: “Vào một đêm khuya khoắt. Gió bấc. Mưa phùn. Chợt một người con gái đến bên đầu giường tôi, khóc, rồi than rằng: “Sao các nhà thơ ta bất công thế này”. “Chúng tôi đã làm gì mà em bảo chúng tôi bất công” - Tôi hỏi lại. “Thì đấy, mấy trăm năm nay, các anh chỉ một mực khóc thương Vương Thúy Kiều. Lại còn đồng thanh bảo rằng, đó là một người đàn bà khổ nhất giời Nam”. “Nàng ấy không khổ thì còn ai khổ nữa?”.

“Sao lại nói thế được? Nàng ấy yêu và được yêu, được hẹn thề: Tóc mây một món dao vàng chia đôi. Bán mình chuộc cha là tự nguyện. Mười năm lưu lạc cũng còn được nương bóng vua Từ Hải, được nhờ túi phong lưu của chàng Thúc. Sau lại được tái hồi Kim Trọng: Hoa tàn mà lại thêm tươi - Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa.

Thân thì thế, danh thì ông Tiên Điền bênh cho: Chữ trinh kia cũng có ba, bảy đường; Rằng nàng lấy hiếu làm trinh. Thế là thân, danh đều vẹn. Nàng ấy khổ sao bằng em được”. Tôi giật mình vội hỏi: "Thế chuyện của em ra sao?". “Em bị gả cho thằng gián điệp! Quay đi quay lại chưa hiểu ra sao thì bị chém đầu. Mà người chém, trời ơi, lại là cha mình!”.

Người con gái ấy nói rồi cứ khóc mãi không thôi, trong nước mắt hình như có máu. Tôi nhìn kỹ, đó là một nàng chừng tuổi trăng tròn, mặt hoa da phấn, cốt cách lá ngọc cành vàng, trên mình khoác chiếc áo lông ngỗng. Chợt hiểu, tôi bảo: “Ra em là Mỵ Châu đấy ư? Đúng rồi, em mới là người đàn bà khổ nhất giời Nam!”. Nàng ấy nghe, nét mặt có vẻ vui lên một chút. Khi tỉnh hẳn, chỉ còn mình tôi trong phòng. Trên bàn viết có mấy chiếc lông ngỗng trắng tinh. Lấy làm lạ, tôi cầm một chiếc lông ngỗng làm bút, viết bài thơ tạ lỗi Mỵ Châu”.

Kể xong câu chuyện trên, Đỗ Trung Lai ngửa mặt lên buồn bã, uống hết một chén rượu. Anh cầm đũa gõ vào thành bát, rồi nhấn nhá hát theo điệu ca trù bài thơ “Lời Mỵ Châu” sau đây:

Cha ơi, cha chọn rể
Cha đắp lũy xây thành
Mà sao khi nước mất
Cha xử con tội hình

Thần rùa biết cơ giời
Cớ sao còn tặng nỏ
Sao nỡ trỏ vào em
Giặc đằng sau vua đó

Chàng đã phụ đời ta
Từ khi chưa gặp mặt
Chuyện tình thành Cổ Loa
Đau trước ngày thứ nhất

Sống cũng chẳng được nào
Nước mất, tình cũng mất
Nhưng chết dưới gươm cha
Thì ngàn năm oan khuất

 Nỗi oan này hóa ngọc
Dưới chín tầng bể sâu
Thần với người đâu cả
Bao giờ thì biết yêu?
  

Đỗ Trung Lai hát xong bài thơ, lúc ấy, hình như cả anh và tôi đều bàng hoàng, thẫn thờ như vừa trải qua một sự đau đớn. Câu chuyện kể trên và bài thơ viết đêm mưa gió ấy, Đỗ Trung Lai đưa toàn bộ vào bài thơ “Lời Mỵ Châu” in trong tập thơ “Đêm sông Cầu” của anh do NXB Quân đội nhân dân ấn hành năm 2003. Có lẽ anh là một trong số ít các nhà thơ đương đại đầu tiên đưa truyện vào trong thơ, dùng truyện minh họa cho thơ và ngược lại. Trong tập “Đêm sông Cầu”, có nhiều bài Đỗ Trung Lai viết theo thể chuyện - thơ ấy.

Khoảng 30 năm trước đây, bài thơ “Đêm sông Cầu” của Đỗ Trung Lai được phổ nhạc, cũng là bài thơ tình đầu tiên anh tặng vợ mà giai điệu tha thiết còn đọng tới hôm nay: “…Con sông của người quan họ/ Suốt đời nước chảy lơ thơ/ Em ơi, em là cô gái/Từ lâu anh đợi anh chờ/ Em là cô Tấm thảo hiền/ Đến giữa đời anh trẩy hội/ Tình đã trao nhau êm đềm/ Mà vẫn mắt nhìn bối rối/ Sông Cầu khi đầy khi vơi/ Chảy ngang qua câu quan họ/ Ướt đầm vạt áo bao người/ Vạt thương ướt cùng vạt nhớ/ Em nói nhẹ như hơi thở/ Anh nghe để nhớ suốt đời/ Giữ tình yêu như giữ lửa/ Đừng quên, đừng tàn, đừng nguôi/ Tình yêu có từ phương em/ Đi qua năm tháng chờ đợi/ Tình yêu cũng từ phương anh/ Lửa rừng bồn chồn góc núi…”. Trong số ít các nhà thơ khéo chiều vợ thì Đỗ Trung Lai nổi tiếng là nhà thơ thích “nịnh vợ” bằng thơ, bằng chứng là trong tập thơ anh in năm 2003, trong số 74 bài thơ, thì có tới hơn chục bài thơ viết tặng “bà xã”.

Suy nghĩ về nghề văn Đỗ Trung Lai từng cho rằng: “Họ tên khai sinh của tôi là Đỗ Trung Lai. Tôi dùng nó làm bút danh của mình. Chắc là khi đặt nó cho tôi, cha mẹ tôi cũng muốn tôi chịu trách nhiệm về nó. Vả lại, làm thơ rõ ràng không phải là một hoạt động bí mật. Vả lại, tôi không thể bắt một cái tên nào khác chịu trách nhiệm về những câu thơ tôi viết. Cũng như cây cúc không bao giờ phải chịu trách nhiệm về việc những bông hồng đẹp hay xấu. Mặc dù là hội viên ngành thơ của Hội Nhà văn Việt Nam, tôi không bao giờ coi mình là nhà thơ chuyên nghiệp. Vì theo tôi, làm thơ không phải là một nghề, với cái nghĩa là có thể đào tạo những người thợ của nó.

Tuy nhiên, thơ lại cần có tính chuyên nghiệp cao. Mặc dù vậy, không thể lấy “tay nghề” để thay cho “nàng thơ” được. Tôi vẫn luôn cho rằng: Nhà thơ không phải là người có thế viết ra những câu thơ mà là người không thể không viết ra những câu thơ. Khi mà trong lòng không có thơ thật, thì đừng ép mình làm thơ làm gì. Làm như thế là tự lừa mình, và sau đó là lừa độc giả.

Theo cách nghĩ này, không ai là người có “nghề cảm hứng” cả. Và vì vậy, tôi mới nói rằng, làm thơ không phải là một nghề. Và vì vậy, làm thơ được đã sướng, nhưng giá mà không phải làm thơ thì còn sướng hơn. Nói thế thôi, chứ chả ai chống được mệnh!”.

Nguyễn Việt Chiến

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).