Người họa sỹ và những bức vẽ mang hồn cốt làng

Họa sỹ Ngô Xuân Hoằng gắn bó với hội họa và điện ảnh như một duyên phận. Ông dành trọn đời làm mỹ thuật cho Xưởng Phim truyện Việt Nam. Ông là thế hệ thứ hai của lớp họa sỹ làm việc ở xưởng phim truyện. Trên ông, có các họa sỹ danh tiếng như Đào Đức, Ngọc Linh... Họ từng gắn bó với Xưởng Phim truyện ngay từ ngày mới thành lập. Họa sỹ Ngô Xuân Hoằng đã học được nhiều kinh nghiệm của lớp người đi trước.

Sinh ra và lớn lên ở một làng quê vùng Kinh Bắc (làng Trang Liệt, Từ Sơn, Bắc Ninh), sống trong một gia đình nông dân, đông anh em; đã vậy, thời chiến tranh, giặc Pháp liên tục về làng càn quét nên ông phải rời làng từ rất sớm, theo gia đình tản cư lên Bắc Giang, Thái Nguyên. Năm 1950, khi mới 13 tuổi, ông theo mẹ ra Hà Nội kiếm sống.

Thoạt đầu, vào phụ việc cho một xưởng mộc ở phố Sinh Từ (nay là phố Nguyễn Khuyến). Vừa học vừa làm, chả mấy cậu bé Hoằng đã có tay nghề mộc thuần thục. Cho đến khi vào làm thợ ở cửa hàng mộc phố Hàng Quạt, niềm đam mê hội họa được thổi bùng lên từ đấy.

Họa sỹ Ngô Xuân Hoằng.
Họa sỹ Ngô Xuân Hoằng.

Chả là, ngoài việc làm đồ mộc gia dụng, cửa hàng còn đóng khung tranh, giá vẽ, hộp gỗ đựng màu vẽ. Khách của cửa hàng là học sinh mỹ thuật đến mua giá vẽ, hộp đựng màu. Đặc biệt, thi thoảng có các họa sỹ đem tranh đến thuê làm khung tranh.

Được xem tranh của các họa sỹ, niềm khao khát hội họa trong con người Ngô Xuân Hoằng bừng dậy. Kiến thức hội họa với Ngô Xuân Hoằng khi ấy chưa có là bao, nhưng màu sắc và hình vẽ trong các bức tranh của các họa sỹ đã gây sự đam mê, cuốn hút bồn chồn khó tả cho cậu thợ mộc ít tuổi.

Cuộc gặp gỡ tình cờ, tạo ra sự may mắn cho Ngô Xuân Hoằng, ấy là quen biết anh thợ khắc dấu ở ngõ Hàng Chỉ, sát phố Hàng Hòm. Thấy Hoằng ham mê hội họa, tối tối, anh thợ khắc dấu kia liền rủ Hoằng cùng đến phố Hàng Trống xin vào lớp học vẽ.

Thày giáo dạy lớp vẽ ấy là họa sỹ Mạnh Quỳnh danh tiếng. Thế là mấy năm liền, ngày làm thợ mộc, tối Ngô Xuân Hoằng cắp bảng vẽ đến lớp học vẽ. Họa sỹ Mạnh Quỳnh là người yêu trò và có phương pháp sư phạm rất giỏi, ông nhiệt tình truyền đạt kiến thức hội họa cho lớp học.

Qua mấy năm học, Ngô Xuân Hoằng đã được trang bị bao kiến thức hội họa, đã cầm bút vẽ được những bức tranh chập chững thuở ban đầu. Ngô Xuân Hoằng khao khát một ngày sẽ vẽ được  những bức tranh thật đẹp về người thân trong gia đình.

Đấy là ông bà, bố mẹ, anh em đang sống vất vả ở làng quê vùng Kinh Bắc. Làng quê thanh bình bên ấy rất đẹp. Những cổng làng, cây đa, bến nước, ao làng… và mái đình có những góc đao đình vươn cao như cánh tay múa dẻo.

Ngô Xuân Hoằng mơ ước sẽ vẽ được những bức tranh về bao phong cảnh  ấy. Rồi may mắn đã đến, Ngô Xuân Hoằng được bạn bè học vẽ giới thiệu vào làm việc ở Xưởng Phim hoạt họa. Một thay đổi lớn với cuộc đời Ngô Xuân Hoằng, từ một anh thợ mộc, nay chuyển thành một họa sỹ của xưởng phim. Lại may mắn cho ông, từ xưởng phim hoạt hình, Ngô Xuân Hoằng được đưa sang học Trường Mỹ thuật Yết Kiêu. Rồi đúng thời điểm ấy, Trường Điện ảnh Việt Nam mở khóa học thiết kế mỹ thuật phim, Ngô Xuân Hoằng liền thi và trúng tuyển. Thế là duyên nợ với hội họa và điện ảnh đến với Ngô Xuân Hoằng từ đấy.

Nhìn lại gần bốn mươi năm làm việc ở Xưởng Phim truyện Việt Nam, Ngô Xuân Hoằng thấy đó là thời sống ý nghĩa nhất. Ông đã được tham dự thiết kế mỹ thuật cho mấy chục bộ phim truyện nhựa, trong đó có 15 bộ phim Ngô Xuân Hoằng chủ trì thiết kế mỹ thuật. Nhiều phim truyện mà Ngô Xuân Hoằng tham gia, đã được nhiều giải cao qua các kỳ Liên hoan phim trong nước và ngoài nước. Cũng chính thời gian này, ông đã sáng tác được nhiều bức tranh đẹp, tham gia nhiều triển lãm mỹ thuật toàn quốc.

Một đời gắn bó với điện ảnh, họa sỹ tự hào vì được tham gia cùng các nhà biên kịch, các đạo diễn, diễn viên, các nhạc sỹ, góp phần xây dựng nền công nghiệp phim truyện ngay từ những ngày còn non trẻ. Ngày  đó, nền điện ảnh của ta còn mới mẻ, nhưng niềm đam mê của những người tham gia làm phim thì không có gì sánh được.

Tác phẩm "Cổng làng quê tôi" của họa sỹ Ngô Xuân Hoằng.
Tác phẩm "Cổng làng quê tôi" của họa sỹ Ngô Xuân Hoằng.

Tinh thần trách nhiệm, làm kỹ, làm hết mình đã để lại một số bộ phim truyện còn có giá trị cho đến ngày hôm nay. Một trong những ấn tượng trong đời thiết kế mỹ thuật phim với Ngô Xuân Hoằng, là thể hiện ba kiểu chợ trong ba bộ phim. Ấy là chợ đèn trung thu trong phim "Trăng rằm" do Nguyễn Khánh Dư làm đạo diễn. Chợ đói, trong phim "Sao tháng tám" do  Trần Đắc làm đạo diễn và chợ bong bóng xà phòng ở phim "Ngày về" do Tự Huy đạo diễn. Để thể hiện ba cái chợ với ba phong vị khác nhau, Ngô Xuân Hoằng đã đầu tư nhiều trí tuệ, công sức mà giới điện ảnh còn ghi nhận.

Sau bao năm lăn lộn với phim trường, năm 2000 nghỉ hưu, Ngô Xuân Hoằng về sống ở làng Trang Liệt. Vậy là xa quê từ tuổi thơ, cuối đời, ông lại về cái làng quê lễ giáo, đầy tập tục của mình. Ông và tôi là người cùng làng, thời trẻ, mỗi người mỗi việc, ít gặp nhau.

Sau này, thi thoảng về quê, thường gặp ông ở những đám hiếu hỷ. Một người bỏ làng đi từ lúc tuổi thơ, nay về sống ở làng, theo những tập tục ở làng, liệu ông có khó khăn không? Tôi như thấy ngoài việc sống hòa đồng với thôn xóm, với ông còn có ý nghĩa khác, ấy là sự nhập cuộc, cho con người họa sỹ của ông có thêm vốn sáng tác.

Cái làng tôi cũng thật lạ. Gốc là làng, mà nếp sống lại rất phố. Thời vua Tự Đức từng phong cho làng bốn chữ "Mỹ Tục Khả Phong". Làng xóm văn minh, đường làng có quy hoạch từ thuở lập làng. Làng có nhà văn hóa chỉ thờ tám vị tiến sỹ. Nhưng tập tục cưới xin ma chay lại lề lối, nhiêu khê vô cùng. Làng làm nghề nông siêng năng, nhưng cầm cân đi buôn cũng giỏi.

Thời buổi ào ạt kinh tế, nhiều doanh nhân ra đời. Ấy nhưng lại đẻ ra mấy ông họa sỹ, mấy diễn viên, mấy nhà báo, nhà văn nhà thơ cũng nổi đình nổi đám. Có lẽ yêu cái làng phát triển theo nhiều chiều này, mà từ ngày về hưu ở làng, họa sỹ Ngô Xuân Hoằng càng đam mê ôm giá vẽ đi vẽ. Ông từng vẽ hàng mấy chục bức tranh làng.

Làng có bốn cổng làng rất đẹp, vì thời cuộc, đã phá đi hai cổng làng. Đẹp nhất là cổng làng xóm Né. Cổng có chòi gác tầng trên, nhìn ra bốn phía. Cổng làng xóm Tây, cạnh cây đề gần nghìn tuổi. Cổng nào cũng có hai cánh gỗ lim dày, nặng trịch, mỗi lần đóng mở lại tạo tiếng kêu riêng của làng. Hai cổng này đã phá đi, tiếc quá.

Nhiều người làng và tôi thật xúc động khi xem những bức tranh mà họa sỹ Ngô Xuân Hoằng vẽ những chiếc cổng làng đã bị phá đi ấy. Nhiều bức tranh của ông như chứng tích về cảnh trí làng một thời. Những cây đa, cây si, cây đề đầu làng; những ngõ nhỏ, miếu nhỏ ngoài đồng; rồi những cây rơm, đống rạ, những hình bóng người già trẻ nhỏ trong sân ngoài vườn, như bức tranh toàn cảnh sống động của thôn xóm. Có bạn đồng nghiệp quý ông mà nói, tranh của Ngô Xuân Hoằng là hồn cốt của làng. Qua những bức tranh hồn hậu này, tôi nhận ra cái tình cảm sâu lắng của ông với quê hương.

Cũng bởi lòng yêu quê hương, nên mỗi khi thiết kế mỹ thuật phim truyện nào, ông lại muốn đưa hình ảnh quê hương của mình vào phim. Thời làm phim "Người yêu đi lấy chồng", kịch bản của Lê Ngọc Minh, đạo diễn Vũ Châu, họa sỹ Ngô Xuân Hoằng đã khéo chọn cảnh vùng quê sông Cầu làm phim.

Ngay thời tham gia làm mỹ thuật phim "Đến hẹn lại lên", ông đã cùng họa sỹ Đào Đức chọn nhân vật chính là Vũ Tự Lẫm (diễn viên đoàn Quan họ, quê Trang Liệt) đóng vai Hai Chi. Có một số nhân vật phụ, như trong cảnh thổi kèn đám ma, chọn cụ Tước, nghệ nhân phường bát âm của làng. Những nhân vật quê hương mà ông chọn vào phim đã diễn xuất rất thành công, toát lên cái phong thái, hồn cốt của nét văn hóa làng quê Kinh Bắc.

Đầu năm nay, nhân kỷ niệm tám mươi tuổi, họa sỹ Ngô Xuân Hoằng xuất bản cuốn kỷ yếu, ghi lại chặng đường hoạt động hội họa và điện ảnh của ông. Qua bốn chục bức tranh với các thể loại sơn dầu, bột màu, sơn khắc; qua những tấm ảnh áp phích về những bộ phim truyện nhựa mà ông tham gia thiết kế mỹ thuật, như một lời thuyết trình nhỏ nhẹ về con đường đến với hội họa và điện ảnh của họa sỹ.

Ông tâm sự về  nghề: "Hội họa và điện ảnh nó diễn tả đời sống rất chân thực nhưng cũng rất mơ hồ, để lại trong ta những giây phút bồng bềnh và phiêu lãng". Cả đời dành tâm lực cho hội họa và điện ảnh, khi làm tập sách kỷ yếu, họa sỹ Ngô Xuân Hoằng cũng chỉ khiêm nhường giãi bày "Muốn để cho con cháu, bạn hữu biết được cái cơ duyên của tôi đến với hội họa và điện ảnh ra sao và một số tranh tôi vẽ".

Tháng 7-2016

Vũ Từ Trang

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).