Đại tướng Lê Đức Anh nhìn lên vòm cây có những tia nắng rọi qua. Ông trầm ngâm, chậm rãi: "Cái khó nhất của mũi tiến công phía Tây Nam không chỉ là quân địch chống cự quyết liệt, bởi chúng định rút chạy từ Sài Gòn theo quốc lộ 4 để co cụm cố thủ ở Tây Đô - Cần Thơ trước khi bị thất bại hoàn toàn; mà chính là địa hình vùng này mênh mông đồng nước, kênh rạch và sình lầy, cụ thể là địa phận Long An làm hạn chế việc cơ động của quân ta, nhất là với tăng, pháo, và xe cơ giới. Khi xe tăng, thiết giáp của quân ta vượt qua sông Vàm Cỏ tới huyện Đức Huệ (Long An) gặp trời mưa lại sình lầy, không đi được. Nhân dân liền về dỡ nhà mình, lót đường cho xe tăng ta vượt qua…".
Sau này có điều kiện nghiên cứu, sưu tầm tư liệu trong và ngoài nước về Đại tướng Lê Đức Anh, tôi mới hiểu vì sao ông luôn đau đáu nỗi niềm của nhân dân, nhất là người nông dân trước cuộc sống thực tại.
Ông - người lính có mặt suốt ba thời trận mạc ở những nơi cam go và thời điểm ác liệt nhất, đã tận thấy sự hy sinh vô bờ bến của người dân cho sự tồn vong của đất nước. Máu của nhân dân đã thấm đẫm từng tấc đất, bao chồng, con họ đã ngã xuống.
Tôi hiểu ông đã làm hết sức mình cho dân, cho nước khi ở các cương vị khác nhau; nhưng những gì ông đã làm được chưa thấm tháp gì so với tâm nguyện của ông. Đó là nỗi đau sâu thẳm trong trái tim ông. Bởi ông từ thuở thiếu thời đã chứng kiến sự lam lũ của người dân bán mặt cho đất, bán lưng cho trời ở quê ông - làng Truồi mênh mông cát trắng thuộc huyện Phú Lộc - tỉnh Thừa Thiên - Huế. Họ làm quần quật quanh năm suốt tháng mà bữa ăn cơm ít, sắn khoai thì nhiều. Ông hiểu đã là con người, đều có nguyện vọng như nhau, đó là tự do và hạnh phúc.
Khi cuộc chiến tranh biên giới Tây
Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, nguyên Chủ tịch nước làm việc với Quân chủng Hải quân nhân dân Việt
Khi đặt chân lên đất bạn, ông đã chỉ đạo quân đội, chuyên gia Việt
Sau chiến tranh, đất nước bước vào thời kỳ Đổi mới gặp muôn vàn khó khăn. Tình hình quốc tế và khu vực có nhiều biến động phức tạp, nhất là trong khối XHCN. Quan hệ giữa các nước không còn cơm dẻo, canh ngọt như xưa. Nền kinh tế nước ta lâm vào khủng hoảng, có lúc lạm phát lên tới mấy trăm phần trăm, đời sống nhân dân vô cùng chật vật. Nước ta lại đang trong vòng cấm vận. Phía Bắc anh "bạn vàng" tiếp tục dở chứng… Khó khăn càng thêm khó khăn.
Lúc này Đại tướng Lê Đức Anh với cương vị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng lên thị sát biên giới để tìm hiểu thực trạng tình hình trong quân đội và nhân dân…
Để bớt gánh nặng cho dân phải đóng góp trong thời kỳ kinh tế khó khăn, sau khi thị sát về, Đại tướng Lê Đức Anh báo cáo Bộ Chính trị và đề xuất "kế hoạch điều chỉnh bố trí chiến lược" giảm số quân mà vẫn tăng cường được sức mạnh chiến đấu của quân đội trong các quân binh chủng, lấy tinh binh thắng đa binh. Và kế hoạch của ông được Bộ Chính trị phê chuẩn. Đó là "thế trận chiến tranh nhân dân", "Quốc phòng toàn dân".
Trong lịch sử quân đội ta, ít có vị tướng nào lại có tài ngoại giao như ông. Ông am hiểu tình hình quốc tế và sớm nắm bắt được xu thế thời đại. Đại tướng Lê Đức Anh là một trong số ít người đề xuất việc nước ta tham gia khối ASEAN, đưa vị thế và tiếng nói của Việt
Có một điều ít ai biết, chính Đại tướng Lê Đức Anh là người mở đầu trong việc tái thiết chiếc cầu quan hệ Việt - Mỹ bằng ngành khoa học - phẫu thuật chỉnh hình.
Có một lần tôi mạnh dạn hỏi ông: "Căn cứ vào đâu, Đại tướng dám đề xuất việc bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ?".
Đại tướng Lê Đức Anh trả lời: "Căn cứ vào lương tri con người, vào nguyện vọng của nhân dân hai nước, vào xu thế thời đại… Vả lại, ta nối lại quan hệ với Mỹ tức là phá được cấm vận, đời sống nhân dân đỡ khổ hơn, các mặt kinh tế, khoa học… sẽ có điều kiện phát triển. Từ đó sẽ tạo ra những biến chuyển mới trong quan hệ hai nước".
Nói tới đây ông cười rất hồn hậu: "Việc nối lại quan hệ Việt - Mỹ, tôi chỉ là người tái thiết chiếc cầu của Bác Hồ đã bắc từ năm 1944 - 1945, và của cha ông ta từ thời cụ Bùi Viện, nhưng vì sự éo le của lịch sử nên chưa bắc được thôi".
Ngày 12/7/1995, Việt
Tháng 10/1995, Chủ tịch nước Lê Đức Anh trở thành Nguyên thủ quốc gia đầu tiên của Việt Nam đặt chân tới đất Mỹ. Từ ngày 22 đến ngày 24/10, ông dự Lễ kỷ niệm 50 năm Liên hợp quốc. Trong bài phát biểu của mình ông nói: "Làm sao để trên thế giới xây dựng một tương lai không còn hận thù mà chỉ còn hợp tác hữu nghị giữa các dân tộc và các quốc gia".
Bài phát biểu của ông đã gây được thiện cảm và sự hoan nghênh tán thưởng của các đại biểu tại Đại hội đồng Liên hợp quốc. Thay mặt nhà nước và nhân dân Việt
Chiếc trống đồng không chỉ là chiếc trống; mà còn là trái tim ông, người được nhân dân ủy quyền đem tặng, bởi nhân dân tin ông như tin chính bản thân họ.
Tháng 8 năm 1991, Đại tướng Lê Đức Anh với tư cách là "Đặc phái viên của Bộ Chính trị" sang Trung Quốc để bàn về những vấn đề cụ thể việc bình thường hóa quan hệ hai nước.
Trước khi bước vào hội đàm, phía Trung Quốc do Tổng Bí thư Giang Trạch Dân làm trưởng đoàn nói: "Có một vấn đề cũng quan trọng, nói trong cuộc họp chung không tiện. Tôi ở địa phương mới lên làm Tổng Bí thư. Trước chưa biết, nhưng nay nghiên cứu lịch sử mới biết là Trường Sa là của Trung Quốc".
Đại tướng Lê Đức Anh đáp ngay: "Tôi cũng giống như đồng chí, tôi ở chiến trường mới về. Khi về Trung ương có dịp nghiên cứu về lịch sử, địa lý và pháp lý, thì thấy rõ Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc lãnh thổ Việt Nam. Bây giờ chúng ta cứ để các cơ quan chức năng nghiên cứu và xác định cụ thể". Nghe vậy, Giang Trạch Dân không nói gì nữa, chỉ cười và bảo: "Tới giờ rồi, mời đồng chí ra hội đàm".
Có một lần, vào thăm hai tỉnh Kiên Giang và Cần Thơ khi tuổi đã cao, ông phát hiện có nhiều nông dân đã bị mất hết ruộng đất canh tác. Ông gặp họ hỏi vì sao mất ruộng. Họ trình bày hết và khóc. Hóa ra một số cán bộ bỏ tiền ra mua đúng lúc gia cảnh họ gặp khó khăn, khiến họ phải bán, thế là mất ruộng… Người nông dân cả đời gắn với ruộng đất nay ruộng không còn, thì lập tức rơi vào khốn khó. Ông nói thẳng với lãnh đạo tỉnh: "Chúng ta làm cách mạng để giành chính quyền cho dân, vì dân. Bây giờ giải phóng, người nông dân bị mất ruộng đất vì không có tiền chuộc lại, trở thành người làm thuê. Như vậy, mục tiêu của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ bị phá, bị xóa bỏ. Nếu cán bộ, đảng viên không nhận thức rõ điều này thì khi có quyền trong tay, anh sẽ trở thành địa chủ hoặc vô cảm, thấy nông dân mất ruộng là việc bình thường…". Vấn đề này ông đã kiên trì nói nhiều lần với Bộ Chính trị. Tiếc rằng ý kiến của ông chậm được giải quyết.
Là người con của nhân dân, ông thấu hiểu những hy sinh mất mát, nỗi cô đơn, tủi cực của các bà mẹ phải chịu đựng sau chiến tranh nên ông đã đề xuất Bộ Chính trị việc phong danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" và được Bộ Chính trị đồng ý. Lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng Việt Nam, hàng trăm Bà mẹ Việt Nam Anh hùng ở tuổi ngoài 70 đã cùng duyệt hàng quân danh dự với người đứng đầu Nhà nước trong khuôn viên Phủ Chủ tịch. Trong cái nắng cuối thu, đi bên các mẹ, nước mắt ông cứ ứa ra, chảy dài trên má.
Đó là nước mắt của một con người rất Người, thủy chung son sắt trước sau như một với dân với nước, với đồng đội.
Ông - người của muôn người với lời thề trên đảo Trường Sa còn âm vang mãi tới muôn sau: "Chúng ta xin thề trước hương hồn tổ tiên, trước hương hồn của cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc. Xin hứa với đồng bào cả nước, xin nhắn nhủ với các thế hệ mai sau: Quyết tâm bảo vệ bằng được Tổ quốc thân yêu, bảo vệ bằng được quần đảo Trường Sa - một phần lãnh thổ và lãnh hải thiêng liêng của Tổ quốc thân yêu của chúng ta".
Khi tôi đặt dấu chấm cho đoạn kết bài này, thì chuyến tàu chở quà Tết cho cán bộ chiến sĩ ta ở quần đảo Trường Sa đã cập bến.
Hà Nội, Xuân Quý Tỵ 2013