Nhưng với người có tri thức, có kinh nghiệm sống đặc biệt, cao cấp, những xúc cảm tự nhiên, bản năng kia, ngay lập tức, trở thành xúc cảm thẩm mỹ.
Khi xúc cảm thẩm mỹ bùng lên mãnh liệt, người ta cảm thấy hạnh phúc.
Thơ hay (câu, đoạn, bài) là thứ thơ biết làm cho xúc cảm thẩm mỹ của người ta bùng lên mãnh liệt, làm cho người ta cảm thấy hạnh phúc.
Nhưng thơ hay, không thể "ngửi" được, không thể "sờ" được, không thể "nếm" được. Nó chỉ còn có hai cửa để đi vào nội giới: Thị giác (đọc bằng mắt) và thính giác (nghe người khác đọc). Tự đọc bằng mắt thì qua chữ, nghe người khác đọc thì qua lời.
Chữ và lời là phương tiện để nhà thơ (có tài) đưa thơ hay đến với người đọc (giỏi). Người đọc không giỏi, các cụ đã có câu: "Đàn gảy tai trâu"! Nhà thơ không có tài, chắc các cụ sẽ bảo: "Đúng là trâu gảy đàn"? Chữ và lời đều được gọi là ngôn ngữ (ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói).
Thế là, nhà thơ như vừa nói, chỉ có một phương tiện để làm ra thơ hay, đó là ngôn ngữ.
Nhà thơ ấy biết dùng ngôn ngữ để "vẽ" ra hình ảnh, khiến người đọc kia "nhìn" thấy.
Nhà thơ ấy biết dùng ngôn ngữ để tạo thanh âm, nhạc điệu, khiến người đọc kia "nghe" được.
Nhà thơ ấy biết dùng ngôn ngữ để tạo mùi vị, khiến người đọc kia "ngửi" được.
Nhà thơ ấy biết dùng ngôn ngữ để tạo vật, khiến người đọc kia "sờ" được, biết nó xù xì như đá đẽo hay mịn mượt như cánh hoa.
Rồi nhà thơ ấy thổi hồn mình, tình mình vào hình ảnh, thanh âm, mùi vị, khiến người đọc kia ái, ố, nộ, hỉ theo mình, như mình, hơn mình.
Thế là, chỉ với ngôn ngữ, bằng ngôn ngữ, thơ hay trước hết tác động vào thị giác và thính giác, rồi ngay lập tức liên thông với các giác quan còn lại, liên kết với tri thức, kinh nghiệm sống và tình người đọc, làm bùng nổ xúc cảm thẩm mỹ của người đọc, khiến họ hạnh phúc với cả ái, ố, nộ, hỉ trong thơ hay.
Niềm hạnh phúc kỳ diệu ấy, trước khi đọc và nghe thơ hay, người ta không có. Nó kỳ diệu hơn trong đời thường. Nó làm người ta cao hơn đời thường.
Cuốc kêu đêm hè, lựu nở đầu hạ, ta đều biết cả. Thơ Nguyễn Du: "Dưới trăng quyên đã gọi hè/ Đầu tường lửa lựu lập lòe đâm bông". Chỉ thêm có "gọi" với "lửa lập lòe" vào, mà ta sung sướng hơn là chỉ nghe cuốc kêu và trông hoa lựu thật. Thơ hay thích hơn đời thường là như vậy. Tả người quá đẹp, phương Đông thường bảo: "Khuynh quốc khuynh thành" (nghiêng nước nghiêng thành). Nguyễn Du tả Kiều: "Làn thu thủy nét xuân sơn/ Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh" là nói trước, vì đẹp thế, thì mới dẫn đến "Nghiêng nước nghiêng thành" được. "Tổng kết" số phận Đạm Tiên, Kiều chỉ cần hai câu: "Sống làm vợ khắp người ta/ Hại thay thác xuống làm ma không chồng". Sự hiểu đời - kinh nghiệm sống, cho Nguyễn Du hai câu thơ ấy, bằng vạn lời kể lể dài dòng! Cũng phải trải đời và có con mắt thấu thế, Nguyễn Du mới viết: "Kiều rằng: "Những đấng tài hoa/ Thác là thể phách, còn là tinh anh"; "Từ khi đá biết tuổi vàng"; "Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao"... cũng từ ấy mà ra.
Bạch Cư Dị tả thanh âm và Phan Huy Vịnh dịch ra tiếng ta:
Ngón buông bắt khoan khoan dìu dặt
Trước Nghê thường sau thoắt Lục yêu
Dây to dường đổ mưa rào
Nỉ non dây nhỏ như vào chuyện riêng
Tiếng cao thấp lựa chen lần gảy
Mâm ngọc đâu bỗng nảy hạt châu
Trong hoa oanh ríu rít nhau
Suối tuôn róc rách chảy mau xuống ghềnh.
Hay là:
Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước
Ngựa sắt dong xô xát tiếng đao
Cung đàn lựa khúc thanh tao
Tiếng buông xé lụa lựa vào bốn dây
(Tỳ bà hành).
Nguyễn Du tả tiếng đàn Kiều khi nàng sang gặp Kim Trọng:
Khúc đâu Hán Sở chiến trường
Nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau
Khúc đâu Tư Mã "Phượng cầu"
Nghe ra như oán như sầu phải chăng
Kê Khang này khúc Quảng Lăng
Một rằng Lưu Thủy hai rằng Hành Vân
Quá quan này khúc Chiêu Quân
Nửa phần luyến chúa nửa phần tư gia
Trong như tiếng hạc bay qua
Đục như nước suối mới sa nửa vời
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.
Thế Lữ tả sáo thổi: "Tiếng đưa hiu hắt bên lòng/ Buồn ơi xa vắng mênh mông là buồn/ Tiên nga xõa tóc bên nguồn/ Hàng tùng rủ rỉ trên cồn đìu hiu/ Mây hồng ngừng lại sau đèo/ Mình cây nắng nhuộm, bóng chiều không đi/ Trời cao xanh ngắt - Ô kìa/ Hai con hạc trắng bay về bồng lai/ Theo chim tiếng sáo lên khơi/ Lại theo dòng suối bên người Tiên nga / Khi cao, vút tận mây mờ/ Khi gần, vắt vẻo bên bờ cây xanh/ Êm như lọt tiếng tơ tình/ Đẹp như ngọc nữ uốn mình trong không (Tiếng sáo thiên thai).
Viết như thế, Bạch Cư Dị, Phan Huy Vịnh, Nguyễn Du, Thế Lữ đã trở thành bậc thầy trong việc dùng ngôn ngữ để tả thanh âm. Thơ hay là như vậy.
Ở trên đã nói tới việc nhà thơ đem tri thức - kinh nghiệm sống, trộn với hồn mình, tình mình, qua ngôn ngữ, tạo xúc cảm thẩm mỹ cho người đọc. Thành tựu này, trong thơ Nguyễn Gia Thiều (Cung oán ngâm khúc), ta thấy "nhan nhản". Ví dụ: "Thảo nào khi mới chôn rau/ Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra/ Khóc vì nỗi xót xa sự thế/ Ai bày trò bãi bể nương dâu". Ví dụ: "Gót danh lợi bùn pha sắc xám/ Mặt phong trần nắng nám mùi dâu". Ví dụ: "Giấc Nam Kha khéo bất bình/ Bừng con mắt dậy thấy mình tay không". Ví dụ: "Cái quay búng sẵn trên trời/ Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm". Ví dụ: "Trêu ngươi chi bấy trăng già/ Trao con chỉ thắm mà ra tơ mành". Ví dụ: "Phong trần đến cả sơn khê/ Tang thương đến cả hoa kia cỏ này". Cũng ý ấy, ở một bài khác, ông viết: "Lép nhép dăm hàng tỏi/ Lơ thơ mấy bụi khương/ Vẻ chi tèo teo cảnh/ Thế mà cũng tang thương".
Không nhìn thấu kiếp người, không thể có thơ hay như thế được. Không yêu thương con người hết mực, không thể có thơ hay như thế được.
Khi Đặng Trần Côn viết - Đoàn Thị Điểm dịch "Chinh phụ ngâm khúc": "Nước có chảy mà phiền khôn rửa/ Cỏ có thơm mà dạ chẳng khuây/ Nhủ rồi tay lại cầm tay/ Bước đi một bước giây giây lại dừng". Hay là: "Chốn Hàm Dương chàng còn ngoảnh lại/ Bến Tiêu Tương thiếp hãy trông sang/ Khói Tiêu Tương cách Hàm Dương/ Cây Hàm Dương cách Tiêu Tương mấy trùng/ Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy/ Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu/ Ngàn dâu xanh ngắt một mầu/ Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai", thì tức là họ đã làm ra những câu thơ bậc thầy về buồn đưa, sầu tiễn rồi.
Những câu: "Tin gửi đi người không thấy lại/ Hoa dương tàn đã trải rêu xanh/ Rêu xanh mấy lớp chung quanh/ Chân đi một bước trăm tình ngẩn ngơ/ Thư thường tới người chưa thấy tới/ Bức rèm thưa lần dãi bóng dương/ Bóng dương mấy buổi xuyên ngang/ Lời sao mười hẹn chín thường đơn sai". Hay là: "Sương như búa bổ mòn gốc liễu/ Tuyết dường cưa xẻ héo cành ngô". Hay là: "Hoa dãi nguyệt nguyệt in từng tấm/ Nguyệt lồng hoa hoa thắm từng bông/ Nguyệt hoa hoa nguyệt trùng trùng/ Trước hoa dưới nguyệt trong lòng xiết đau", thì đó là những câu thơ bậc thầy về nhớ nhung, trông ngóng, tủi hờn. Thơ hay là thế. Đó là những câu thơ vượt thời gian, vượt cả không gian. Không cần biết Hàm Dương, Tiêu Tương là ở đâu nữa, lòng chỉ đau theo lòng người xưa mà thôi. Mà người nay, tình chẳng thế sao? Nhà thơ chẳng đã "Rót đau lòng ấy vào đau lòng này" đó sao?
Cũng có thơ (câu, đoạn, bài) hay trong thời này mà sang thời khác thì không hay nữa. Khi ấy, do mỹ cảm thời đại khác đi, nó không còn được "cộng hưởng" nhiều như trước nữa. "Khi đại bác gầm thì họa mi ngừng hót", đó là lẽ thường. Thời bình (không chỉ có nghĩa là im tiếng súng), họa mi sẽ hót. Nhiều mi lắm! Nhưng chỉ những con mi có giọng tốt thật và được luyện nhiều, mới hót hay. Thơ hay, dứt khoát không phải là thơ vụn vặt, dứt khoát không do "chụp giật" mà có. Tôi ủng hộ các nhà thơ "không thể không viết ra những câu thơ". Tôi bỏ qua những người "có thể viết ra những câu thơ". Các nhà thơ "không thể không viết ra những câu thơ" may ra mới có thơ hay được