Nghĩ chân trời, lại nghĩ chân ta

Đọc "Chân trời sau chân trời", thơ Vũ Quần Phương, NXB Văn học, 2011.

"Chân trời sau chân trời" là những chiêm nghiệm và độc thoại của nhà thơ Vũ Quần Phương ở tuổi 72, cái tuổi xưa thì hiếm mà nay thì không hiếm. Chỉ hiếm ở  tuổi 72 mà thơ vẫn đậm hương đời, tình người, vẫn săn chắc và dồn nén, trầm tĩnh mà ẩn tàng bão dông.

Khác với những tập thơ trước, kể từ tập "Quên chữ quên câu" xuất bản năm 2000 đến nay, đời mở cửa, nhà thơ tự thoát mình ra khỏi mình, thật mình hơn.

Mở đầu tập thơ là cặp "Âm - Dương": Trà đạo và phản trà đạo. Trong âm có dương, trong dương có âm là bản chất của dịch lý, bản chất của mọi sự mọi vật trong đời và ngoài đời.

Nhà thơ nhẩn nha, chậm rãi, ngẫm nghĩ lẽ nhân sinh trong trà đạo:

Nước thật sôi
Trà chết một lần nữa
Lại hiện ra búp non

Đấy là lẽ "Vật cùng tắc phản" trong nỗi đau và cái chết sự sống lại hóa sinh. Có điều búp non ở cấp độ này thì "Bơi trong đặc chát".

Câu thơ thủng thẳng, chậm rãi, ý ở ngoài lời, lấy việc uống trà nói việc đời, không ồn ào cao khoát mà lắng sâu, hương và vị trà "Từng giọt thấm" vào tâm, tỏa lan khơi nguồn ý tưởng.

"Phản trà đạo" là khí chất nói thẳng: "Đừng nói chuyện uống trà/ Hãy đi khoan giếng". Người đàn ông đã trải đời, trải núi, trải sông nhưng vẫn phải "Tìm xuống thật sâu/ Tận lòng người/ Sâu hút". Thơ nói chuyện khoan giếng, lấy nước mạch sâu nhưng lại sâu tới "Tận lòng người sâu hút" thì nước không hẳn chỉ là nước nữa mà tìm ở lòng người sự trong và sạch. Phàm việc khoan giếng, đào giếng, việc đầu tiên là tìm đất nào có mạch nước. Mạch nước có mạch nông, mạch sâu, nước có nước đục, nước trong. Giếng có giếng ngọt giếng lành và có giếng không dùng được. "Tìm xuống thật sâu/ Tận lòng người/ Sâu hút" là cái âu lo, bất an thời nào cũng có trong mỗi con người, trong mỗi nhà thơ.

Xưa Nguyễn Trãi đã từng "Bui một lòng người cực hiểm thay", nay Vũ Quần Phương không nản lòng tìm cái thanh khiết của nước trong. Dễ thôi: "Nước trong thì không đục" nhưng cũng khó vì "Nước trong mà có khi vẫn độc", việc đời lắt léo là vậy. Câu thơ  "Lưỡi người cũng không tin được đâu" có dáng dấp câu văn xuôi độc thoại và tranh luận. Nó nghi ngờ cảm quan: "Nếm không ra vị độc". Lưỡi ở đây không chỉ là cơ quan vị giác, nó còn là cái lưỡi ngụ ngôn của Ezop. Nói hay là nó mà nói dở cũng là nó, rất khó tin. Vũ Quần Phương tự hô hào ở lòng mình: "Cứu nước thời nay như cứu cháy/ may ra… may ra" mới yên ở lòng mình! Trà ngon phải có nước của trời. Nhưng với Vũ Quần Phương, nước của trời cũng cần thanh lọc mới dùng được bởi "Khí quyển nhiều ô nhiễm". Trà đạo - ngẫm đạo trong đời, thơ Vũ Quần Phương cùng thời cuộc mà mới hơn.

"Bài thơ không thành" là tâm trạng tự vấn của người làm thơ: "Tôi cúi mặt nghe lòng tôi giếng cạn". Sự cúi mặt để nhìn xuyên thấu vào lòng mình, nhận chân lẽ không thành của bài thơ: "có lẽ chỗ gọi thơ/ thì thơ lại điếc/ con dế nhỏ trong đêm âm thầm than khóc/ với vì sao thao thức xa kia/ với cả thơ/ thì thơ say giấc/ có khi còn nói mê". Bài thơ không thành vì cái bên ngoài kia và tâm hồn thi sĩ không hòa làm một, hồn thi sĩ không hoàn hảo để nhập được, để nghe ra "tiếng thì thầm của cỏ/ nỗi ngập ngừng của hương/ và ngay cả ầm ào bão tố/ ta nghe mà chẳng rõ/ rõ mà lặng thinh". Hiểu thấu lẽ không thành nhưng nhà thơ không trách những gì ở ngoài mình, chỉ tự trách mình "Không hoàn hảo tài năng" và tự an ủi mình "Bài thơ không thành thì thành chiếc gương con".

Nỗi buồn trí tuệ còn được thể hiện trong bài "Con sâu đo" và "Chữ". Mắt nhà thơ nhìn xuyên thời gian, thấu hiểu "tính nết" của lịch sử:

Lịch sử như anh mù
anh điếc
anh câm
lại hay thích nói

nhưng thơ tự biết phận thơ:

Ông nhà thơ là con sâu đo
Lấy thân mình mà đo lịch sử.

Thơ cân đo thời thế, vĩ nhân lẫn châu chấu cào cào... bằng chính thịt da và trái tim mình.

Có nỗi buồn thoát ra thành lời:
Đừng tưởng làm thơ không có tội
Trắc bằng lắm lối
Không đưa ai qua sông
Mà người chết đuối

Có nỗi buồn thành "Tiếng nói câm", nhà thơ nghe được, đọc được ở đó ý nguyện, thân phận của những người nói không thành tiếng. Bài "Tịnh khẩu", tu luyện không nói cho nỗi buồn đắc đạo, nỗi buồn không thành "tiếng nghe" mà thành "tiếng nghĩ", không tồn tại trong thanh âm mà tồn tại trong tư tưởng, thậm chí trong hành động.

Vũ Quần Phương nhiều đồng điệu và luôn tự biết mình:

Đi trong mưa thì ta vẫn ngoài mưa
Đứng trước gió nhưng lòng ta đã gió
Gió ngoài kia đâu biết gió trong này.

Buồn và cô đơn thường bay đôi, bất an và niềm tin không bay đôi mà bay lẻ. "Thơ lúc đi đường" là thơ viết trong lúc tỉnh táo - tỉnh táo cô đơn: "Tôi đi cùng khoảng trống" … "Đám đông thì không mặt/ Nào biết ai vào ai". Mới đọc tưởng là bài thơ tình nhưng không phải: "Nhìn em không thấy em" như nhìn vào cõi của khát khao, của lý tưởng. Gương mặt em "Quen như mong ước", như kỳ vọng, nay nhìn lại hóa ai khác, người đọc ngờ ngợ bắt gặp một nỗi buồn thời cuộc. Bài "Trong đêm" nội tâm hơn: "Dầu bấc cạn rồi/ Mặt trời thì vẫn ngủ/ Biết tìm đâu ra lửa?/ Thì lấy đêm mà soi". Chứ biết làm sao. Chúng ta đứng giữa đêm nhiều khi phải nhắm mắt lại rồi lại mở ra để nhìn đấy thôi. Và đã nhìn thấy.

Thành phố NewYork nổi tiếng với những nhà chọc trời, một tứ thơ hình thành: "Không thấy được chân trời/ Chân trời vào ý nghĩ/ Sau chân trời/ Lại chân trời nữa". Nhà thơ biết cái rộng của nhiều chân trời, của ngoài trời còn có trời nhưng cũng biết một cách hài hước cái sức của chân ta. Một chút chơi chữ, đối chữ, hóm mà buồn:

Nghĩ chân trời
lại nghĩ chân ta.

Bài "Đón giao thừa" cũng tâm trạng buồn - trầm tĩnh và tỉnh táo trong cảnh ngộ của mình:

Trong căn nhà này là nước Việt
Là đèn nhang con cháu giao thừa
Ngoài căn nhà này là nước Mỹ
Giữa ngày tuần phố đã vào trưa…

Ở chùm thơ viết cho cháu, Vũ Quần Phương đã hồn nhiên nhập vào hồn trẻ thơ, dịch ngôn ngữ tâm hồn trẻ thơ sang ngôn ngữ người già rất hóm:

Chưa biết nói, chưa biết đi
Nhưng cháu biết ông là người chơi được

Ông bồng cháu dâng cao
Cả trái đất - lúc ấy thôi - ông chỉ còn thấy cháu.

Tôi đọc tập thơ "Chân trời sau chân trời" như đọc những tâm sự sâu kín. Con chữ hàm chứa đa chiều. Chân trời và sau chân trời, mặt trái mặt phải, mặt trước mặt sau, nhịp hô nhịp hấp... Trạng thái u mặc. Trầm tĩnh. Độc thoại. Ngẫm ngợi. Buồn cô đơn mà cũng không hẳn cô đơn mà là u mặc.

Vũ Quần Phương có tài bình thơ. Giá như ông tự bình thơ của mình thì tôi tin người đọc sẽ thú hơn đọc bài viết này

Nguyễn Thanh Lâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).