Một giọng thơ nữ không cần trang điểm

Đọc "Cỏ thơm mây trắng" của Nguyễn Thị Hồng Ngát, NXB Hội Nhà văn, 2012.

Trong các nhà thơ nữ thời hiện đại, tôi thích tìm đọc thơ của Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn và Nguyễn Thị Hồng Ngát. Mỗi người một phong cách, song tựu trung đều giống nhau ở một điểm: Cả ba chị đều lấy thơ ca làm nơi trú ngụ cuối cùng của trái tim. Nói thế cũng có nghĩa là, nếu không có tâm trạng thực sự, khổ đau thực sự, xúc động thực sự, cả ba chị đều không thể nào cầm bút viết thành thơ. Đằng sau mỗi bài thơ của Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Nguyễn Thị Hồng Ngát đều có một cái gì đó. Một cái gì đó rất khó gọi thành tên, nhưng nó làm nên sức nặng cho những con chữ.

Giọng thơ của Xuân Quỳnh là giọng thơ buồn thương của định mệnh - buồn thương ngay cả khi tác giả cố gắng "Tự hát" lên mà vẫn bị nỗi buồn ấy ám ảnh không tha:

Em trở về đúng nghĩa trái tim em
Là máu thịt, đời thường ai chẳng có
Cũng ngừng đập lúc cuộc đời không còn nữa
Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi

Giọng thơ của Phan Thị Thanh Nhàn là giọng thơ hoài tiếc đến cực đoan - một sự cực đoan rất đáng yêu, đáng để phái mày râu phải giật mình nhìn lại con đường và nhìn xuống đôi bàn chân của mình:

Nếu anh đi với người yêu
Chỉ xin anh nhớ một điều nhỏ thôi
Con đường ta đã dạo chơi
Xin đừng đi với một người khác em

Còn giọng thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát thì sao? Có phải là giọng thơ của một người đàn bà khát? Và ý nghĩa tượng trưng của cơn khát này là gì, mỗi khi chị đưa đôi mắt đăm chiêu và hy vọng nhìn mãi lên trên cao:

Ngước nhìn thăm thẳm trời xanh
Mỗi lần KHÁT - tự biến thành… giọt mưa

Đúng là tác giả đã tự hóa thân để mà giải thoát, chứ không phải giải khát thông thường. Một sự hóa thân thật kỳ lạ và tuyệt vời! Cơn khát ở đây chính là cơn khát của nỗi khắc khoải nghệ thuật. Vâng, Hồng Ngát đã dùng vẻ đẹp của thơ ca làm những liều thuốc để an ủi chính mình. Điều này được bộc bạch, hé lộ rất rõ trong tập thơ mới nhất của chị có tên là "CỎ THƠM MÂY TRẮNG". Một cái tên thật gợi, vừa rất gần lại vừa rất xa.

Với bốn nhăm bài góp mặt trong tập - tôi đã đọc và đã tìm thấy những câu thơ, những bài thơ của chị phải trả giá bằng cả cuộc đời - cuộc đời của một người đàn bà quyết tâm tồn tại giữa bao nỗi đa mang, trắc ẩn có tên và không có tên:

Sao có lúc lòng buồn đến thế
Dù vẫn cười như chẳng có gì đâu
Mỗi ngày sống vẫn làm đủ việc
Nào đâu hay người đổi mặt thay màu

Bài thơ cứ tiếp tục trôi đi một cách thật nhẹ nhàng, thật đắm đuối với một câu hỏi tưởng chừng bâng quơ:

Sao có lúc lòng buồn đến thế
Dòng sông xưa còn đỏ phù sa?
Ta về quê nhớ một thời khao khát
Cỏ rất thơm mây trắng rất hiền hòa

Rồi đánh đùng một cái, bài thơ bất ngờ khép lại cũng bằng một câu hỏi - câu hỏi lúc này không còn bâng quơ nữa - một câu hỏi không dễ trả lời:

Những người tốt đi đâu hết cả
Thương cây còn cố giữ một màu xanh…

Bỗng dưng nhớ và nghĩ tới tên gọi của tập thơ - ẩn giữa cái rất gần và rất xa tưởng như mơ mộng ấy - là một nỗi xót xa khôn cùng. Nỗi xót xa ấy còn được lặp lại dữ dội hơn nữa ở trong những câu thơ cuối cùng của bài "Đi tìm sự bình yên":

Sống khó quá làm sao không mệt mỏi
Đi đâu giờ để có được bình yên
Giữa nhà mình gió bão vẫn từng cơn
Lòng không tĩnh làm sao đời tĩnh được?

Nhưng điều đáng quý nhất là dù mệt mỏi đến đâu, nữ thi sĩ vẫn ngẩng cao đầu và can đảm cất bước. Chị đi, đi để chứng minh tình yêu cuộc sống của mình không bao giờ vơi cạn:

Em vẫn đi dù biết mỗi năm bạn bè cứ vơi dần
Họ đã lánh về miền xa thẳm
Để lại một tình yêu thầm lặng
Một tình yêu vời vợi không lời

Tình yêu vời vợi không lời của Hồng Ngát không chỉ dành riêng cho bạn bè mà còn dành cho những mảnh đất, những âm thanh mà chị đã từng sống, từng nghe - một tình yêu khiến ta không ngủ nổi vì những cánh bèo đã chìm trong đất, những mạch nước giếng làng trong vắt đã được đổ đầy bằng gạch xỉ gạch than:

Làng làm gì còn ao? Làm gì còn bờ bãi
Làng lên phố lâu rồi - Bản giao hưởng từ thủa hồng hoang
Sao con ngân mãi
Uôm uộp trong đêm - uôm uộp trong lòng

(Đêm nghe tiếng ễnh ương kêu)

Tiếng ễnh ương kêu than trong đêm đã hóa thành tiếng lòng thắc thỏm của nhà thơ.

Đến đây tôi bỗng nhận ra một điều ở trong "CỎ THƠM MÂY TRẮNG": Trong các bài thơ của Hồng Ngát đầy rẫy những câu hỏi, và chính những câu hỏi đó đã làm nên tính công dân, tính tư tưởng cũng như tạo ra chất thơ, hồn thơ của chị - Đó là một giọng thơ nữ không thể trộn lẫn, vừa nhạy cảm lại vừa thẳng thắn; nhạy cảm với mọi sự đời và thẳng thắn với chính bản thân mình. Có lúc đọc thơ, lại ngỡ như đang đọc trộm nhật ký của chị:

Đã định chào thơ không tri âm tri kỷ cùng thơ nữa
Đã nói dỗi như thể bao nhiêu lần rồi nhưng khi gặp bạn bè thân thiết
vui quá lại quên khuấy đi
Lại cầm bút lại muốn viết lại muốn chia sẻ lại muốn nói về cuộc sống
tuy vất vả nhọc nhằn nhưng vẫn đáng yêu

(Dỗi).

Những trang thơ giống như nhật ký như thế, có rất nhiều rất nhiều trong thơ của Nguyễn Thị Hồng Ngát. Đây là một phong cách và cũng là một thế mạnh của chị để đi vào lòng bạn đọc. Biết là vậy, nhưng không phải ai cũng có đủ bản lĩnh, đủ tự tin để thổ lộ đến cùng những suy nghĩ của mình - một sự thổ lộ không khoan nhượng giữa cái tốt và cái xấu, giữa cái thiện và cái ác. Mặc dù đã có lúc chị rụt rè tự nhủ:

Đời vốn thế thôi thì ta biết vậy
Hãy lặng yên như chẳng biết gì
Hãy lặng yên như một kẻ ngu si
Mọi sự ghét bắt nguồn từ sự nói

(Đi tìm sự bình yên)

Nhưng cuối cùng thì nhà thơ chân chính trong chị vẫn cứ phải lên tiếng, và có nói ra, thì chị mới đúng là chị:

Phim quay mãi vẫn cứ là vô tận
Chỉ cuộc đời là hữu hạn mà thôi
Ước gì người với người là bạn
Nhỏ nhen chi? Chật hẹp lắm cõi đời. 

Trên phim toàn nói điều tốt đẹp
Ước gì đời - sống cũng đẹp như phim
Cao cả với thấp hèn - hai cực
Để cho ai cứ mãi mãi đi tìm…

(Phim và Đời)

Cũng có lúc chị biết sợ - sợ rất nhiều thứ. Nghe những nỗi sợ mà chị liệt kê ra, người khó tính dễ cho chị là người… lẩn thẩn: "Sợ tất cả từ trẻ thơ - đầu bạc/ Sợ vô tâm làm khổ người thân/ Sợ mèo đói, sợ chó tru khát nước/ Sợ con đau, sợ chẳng thể đỡ đần/ Sợ bè bạn xa gần quên nhớ/ Sợ quê hương gần đó mà xa/ Sợ chồng giận mỗi lần sơ ý/ Sợ anh em ruột thịt trong nhà" (Sợ)

Nhưng khi chị đã vượt qua sự tê tái, vượt qua những âu lo, vượt qua bao đau buồn - nỗi sợ của chị bùng cháy lên thành một Điểm Ngời Sáng rực rỡ triết lý nhân sinh:

Sống một ngày cho thật đáng sống hơn
Còn thấy sợ bởi còn yêu đời lắm

Chính vì Hồng Ngát biết quý, biết nao nức, biết chắt chiu từng ngày từng giờ, thậm chí từng phút những gì trần gian và bầu trời đã ban tặng cho mình nên tất cả những bài thơ viết về mùa xuân của chị, vừa mang cái sinh lực của thiếu nữ lại vừa có được cái tinh lực của một người từng trải:

Một chút nhớ thôi - nhẹ như tơ
Một chút thảo thơm giữa hững hờ
Một lời thân mến tan mệt nhọc
Hoa đào vẫn thắm giữa vườn xưa. 

Xuân đã về kia gió gió bay
Nhớ thương ba vạn sáu ngàn ngày
Vẫn làm như thể không thương nhớ
Muối mặn ba năm gừng vẫn cay.

(Khi mùa xuân tới)

Bên cạnh một Hồng Ngát nhạy cảm, thẳng thắn ở mảng thơ thế sự, ta lại phát hiện thêm một Hồng Ngát thật đắm say và nồng nàn trong những câu thơ chị viết về những người thân thương và gần gũi nhất của mình:

Em mới hiểu ta cần nhau đến thế
Giữa mênh mông ngả cuối của cuộc đời
Mỗi ngày sống càng nâng niu gìn giữ
Cả khi chết đi cũng không thể xa rời…

(Không thể xa rời)

Nguyễn Thị Hồng Ngát đã lên chức bà, nhưng gặp chị và nhất là đọc thơ của chị, tôi thấy chị trẻ quá - sự trẻ trung, nói đúng ra là sự trẻ thơ của một người lấy thi ca làm cứu cánh tin cậy, làm chỗ dựa tinh thần vững chắc để vượt qua những giai đoạn nghiệt ngã nhất của cuộc đời. Và chị đã vượt qua được! Chị có một cuốn tiểu thuyết lấy tên là "Hai lần sống một mình". Nhưng hình như chị chưa bao giờ phải sống một mình - bên trong trái tim của một người đàn bà gặp nhiều sóng gió vẫn có một cô bé con trong trẻo tên là Hồng Ngát luôn lạc quan mỉm cười, luôn hồn nhiên cất cao tiếng hát. Chính nhờ cô bé con ấy, nụ cười ấy, tiếng hát ấy mà chị luôn có thơ. Từ "NHỚ VÀ KHÁT" đến "CỎ THƠM MÂY TRẮNG" là cả một chặng đường dài. Thơ chị càng ngày càng đằm sâu hơn và day dứt hơn, chính vì thế cũng giản dị hơn, thân thiết hơn với muôn nẻo đời thường. Điều đáng trân trọng nhất là thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát chưa bao giờ cần đến sự trang điểm hay làm điệu chữ nghĩa bằng son phấn mà vẫn tràn đầy nữ tính và sự duyên dáng. Một giọng thơ nữ dù tác giả có đãng trí quên đề tên, nhưng tôi tin, bạn đọc vẫn có thể nhận ra người nữ thi sĩ quen thuộc của mình

Hoàng Nhuận Cầm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).