Một đời người đi tìm một vì sao

Cuốn sách “Đi tìm một vì sao” xuất hiện khi tác giả Phạm Quang Nghị ở tuổi 73. Ở độ tuổi ấy, Nguyễn Công Trứ tự trào “ngũ thập niên tiền, nhị thập tam”, còn Phạm Quang Nghị bình thản “đi tìm một vì sao” của riêng ông.

Gần 650 trang của cuốn sách “Đi tìm một vì sao” mà tác giả Phạm Quang Nghị muốn “tự kể chuyện mình” hoàn toàn không dễ viết ra. Bên cạnh sự cân nhắc độ dày, còn phải cân nhắc độ nóng của cuốn sách. Bởi lẽ, tác giả Phạm Quang Nghị được xếp vào hàng chính khách Việt Nam, chức vụ cuối cùng khi ông rời quan trường là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội. Công chúng dĩ nhiên tò mò về cuốn sách “Đi tìm một vì sao”, phần lớn vì tò mò thân phận tác giả. Đành rằng, tâm niệm “tự kể chuyện mình”, nhưng kể ra không tránh khỏi vướng mắc với người khác. Vậy mà, tác giả Phạm Quang Nghị vẫn kể được, kể một cách rành mạch, kể một cách thuyết phục.

pham quang nghi.jpg -0
Tác giả Phạm Quang Nghị.

Tự truyện của chính khách, phần lớn do nhà văn hoặc nhà báo chấp bút. Tuy thuận tiện hơn cho chính khách, nhưng lại không dễ kiểm soát chi tiết và sự vận hành câu chuyện. Tác giả Phạm Quang Nghị sau khi tốt nghiệp Khoa Lịch sử của Đại học Tổng hợp Hà Nội đã tham gia lớp bồi dưỡng viết văn của Hội Nhà văn Việt Nam, nên ông đủ tự tin để viết “Đi tìm một vì sao” theo kiểu riêng mình. Bằng giọng kể nhẹ nhàng, cuốn sách “Đi tìm một vì sao” chia làm 3 phần: “Lớn lên bên dòng sông Mã”, “Chào mẹ con đi để được làm người” và “Những chuyện đã qua”.

Sinh ra và lớn lên ở làng Hoàng (Yên Định, Thanh Hóa) nhiều gian khổ, tác giả Phạm Quang Nghị không chỉ đi qua chiến tranh mà còn có cơ duyên đảm đương các chức vụ quan trọng. Sự trải nghiệm của tác giả Phạm Quang Nghị đã chia sẻ cho công chúng nhiều tư liệu quý giá thời đạn bom khốc liệt với “Đi dọc Trường Sơn”, “Về miền Đông Nam bộ”, “Ngày ấy, Tây Ninh”, “Nỗi nhớ Sài Gòn”. Và sự trải nghiệm của tác giả Phạm Quang Nghị cũng hé lộ cho công chúng nhiều tình huống công sở thú vị với “Chuyện thường ngày ở Ban”, “Hạn 49-53”, “Về Hà Nam”, “Bộ Văn hóa - Thông tin, năm năm và một ngày”, “Mười năm - Một lát cắt thời gian”.

Để tránh khuyết tật quen thuộc của thể loại tự truyện là khoe công giấu tội, tô vẽ bản thân lấp liếm sự thật, tác giả Phạm Quang Nghị đã “Đi tìm một vì sao” bằng đúng văn phong của mình. Có bạn bè giai đoạn trung học là nhà văn quân đội Nguyễn Bảo và nhà nghiên cứu ngôn ngữ Phạm Văn Hảo, nên tác giả Phạm Quang Nghị nhận diện đầy đủ ưu khuyết của mình trong sở thích viết và khả năng viết: “Từ khá sớm tôi đã hiểu văn phong của tôi cũng giống con người tôi vậy. Giản dị, đời thường, mộc mạc, chân chất. Dẫu tôi muốn bắt chước bạn bè, muốn học theo lối viết du dương bay bổng, tôi cũng không bắt chước được. Có lẽ đó cũng là do tính cách của tôi. Đôi khi tôi cố viết ra những ngôn từ bay bổng, ồn ã, lanh canh thì đến khi đọc lại thế nào tôi cũng sửa, cũng cắt bỏ”.

Tác giả Phạm Quang Nghị tâm đắc với bốn chữ “quang minh chính đại”. Khi có dịp xin chữ thầy đồ, ông cũng xin bốn chữ này. Bởi lẽ, “bốn chữ “quang minh chính đại” đối với tôi từ lâu là một phương châm sống, làm việc, là lời nhắc nhở, đồng thời cũng là sự tự nguyện tuân thủ của tôi trong công việc. Đó cũng là điều mà nhiều người thường nói tới hằng ngày bằng ngôn ngữ hiện đại: Công khai, minh bạch, đúng mực, nghiêm túc, rõ ràng”.

di tim mot vi sao.jpg -0
Bìa cuốn sách “Đi tìm một vì sao”.

Lành lặn trở về sau ngày non sông thống nhất, Phạm Quang Nghị học thêm môn triết và có bước tiến dài trên con đường hoan lộ. Qua lời kể của Phạm Quang Nghị, thì ông không ôm mộng sĩ đồ, nhưng định mệnh đã trao cho ông cơ hội để định vị chốn quan trường. Từ khởi điểm làm thư ký cho ông Đào Duy Tùng, sự nghiệp của Phạm Quang Nghị lần lượt mở ra nhiều nấc thang khác như Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên huấn Trung ương, Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam, Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin, Bí thư Thành ủy Hà Nội.

Có 10 năm trong Bộ Chính trị, Phạm Quang Nghị suy tư: “Có người ví chính trị như là một thứ ma túy dễ gây nghiện bậc nhất. Và đã dính vào thì rất khó cai. Trong muôn nghìn thứ ước muốn, khát khao của con người, thì có cái ước muốn làm chính trị, làm chính khách, làm lãnh đạo có quyền lực luôn là niềm ước muốn, khao khát vô cùng mãnh liệt… Chính trị có những lúc kiêu căng, hãnh tiến, thắng người như chẻ tre. Có lúc ai đó phải ngậm bồ hòn làm ngọt… Sự đời cá ăn kiến, kiến ăn cá vẫn thường xảy ra. Ai đã khiến nhiều người khiếp sợ, đến lúc họ phải khiếp sợ nhiều người… từ lâu, tôi luôn tự nhắc mình chớ nên ảo tưởng, và cũng không nên trông chờ vào sự may mắn có được trái sung rơi chín mõm. Chuẩn bị một tâm thế luôn sống chủ động, không phải quá lo lắng, hồi hộp, chập chờn, căng thẳng. Và càng không phải đôn đáo ngược xuôi tìm kiếm những cơ hội thật ít giả nhiều, bớt phải nghe những lời chúc tụng mơ hồ, viển vông”.

Thế nhưng, đã xác tín “quang minh chính đại” nên Phạm Quang Nghị không ngần ngại được mất cá nhân. Thậm chí, có lúc ông phẫn nộ: “Làm lãnh đạo thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, chỉ khư khư giữ ghế, sẵn sàng hy sinh lợi ích chung để giữ sự an toàn cho bản thân, thì những cán bộ như thế sẽ là những vật cản đường cho sự phát triển đi lên của đất nước”.

Cũng nhờ bốn chữ “quang minh chính đại” mà Phạm Quang Nghị ung dung trở lại cuộc sống bình thường và thong dong kể lại năm tháng đời mình. Những trang hay nhất trong “Đi tìm một vì sao” là những trang viết về miền quê thơ ấu bên bờ sông Chu. Ông thấu hiểu cuộc sống sau lũy tre làng: “Cả những câu chuyện sinh hoạt vợ chồng, yêu đương, ân ái đêm đêm các ông bà cũng thi nhau kể một cách rất hồn nhiên, sảng khoái. Những người nông dân lực điền không chỉ thể hiện sức lực của mình khi cày cuốc trên cánh đồng, mà còn rất muốn khoe khả năng làm tình, sinh con đẻ cái. Những câu chuyện chỉ làm khổ cho những ông bà hiếm muộn hay sinh toàn con gái”. Hơn nữa, Phạm Quang Nghị là người trọng tình. Cho nên, ơn nghĩa người dưng dù nhỏ bé vẫn làm ông khắc ghi. Ông nhớ lúc nghèo khó được ông Bột hàng xóm cho những cái đầu cá rô để nhà mình có bát canh đầu cá rô nấu với dưa chua thơm phức.

Ở cố hương, Phạm Quang Nghị từng bị mất hai cô em gái vì bom giặc. Nỗi đau ấy cứ nhói lên trong hồi ức của ông, mà nỗi đau ấy cũng khiến ông mạnh mẽ hơn. Phạm Quang Nghị bộc bạch: “Những người xem tử vi tướng số cho tôi đều nói giống nhau, rằng tính tình tôi ngay thẳng, có đời sống tự lập, chẳng dựa cây núp bóng vào ai”. Nơi duy nhất mà ông nương tựa là người mẹ tảo tần. Ông ám ảnh: “Những lúc không thể gửi tôi cho ai, mẹ đành cho tôi theo đi làm. Một bên quang gánh là phân tro mạ giống, một bên mẹ đặt tôi ngồi trong chiếc thúng, quảy ra đồng”.

Vì vậy, sau khi nghỉ hưu, về thăm lại ngôi nhà tuổi nhỏ, Phạm Quang Nghị xúc động: “Tôi như đang nhìn, đang nghe những lời mẹ ru, những câu chuyện mẹ kể thì thầm những đêm trăng năm xưa. Tôi nhớ rõ từng lời, từng cử chỉ ân cần dạy bảo của mẹ. Nhớ cái hôm mẹ cố kìm nén những giọt nước mắt buồn để ngồi rang muối, làm ruốc, trước ngày tôi lên đường vượt Trường Sơn ra mặt trận... Người mẹ một đời lo toan, nhọc nhằn, vất vả. Người mẹ suốt một đời thầm lặng hy sinh. Sức lực của mẹ dường như mong manh và yếu ớt, nhưng công lao và nghị lực của mẹ thì vô cùng lớn lao, không sao đo đếm được. Mẹ là người luôn bên cạnh, dắt dìu từng bước đi của tôi từ lúc chập chững cho tới khi tôi khôn lớn, trưởng thành. Và tôi tin, tôi cảm nhận trong lúc này và mãi mãi, mẹ vẫn luôn ở bên tôi. Người sẽ chở che cho tôi đi suốt cuộc đời”.

Lẽ thường, một người đã chọn hướng “quang minh chính đại” sẽ có nhiều góc nhìn vượt khỏi bon chen thế tục. Khép cuốn sách “Đi tìm một vì sao”, độc giả mường tượng chân dung Phạm Quang Nghị thật ấm áp, khi Bí thư Thành ủy Hà Nội cảm nhận được những điều khó quên ngay tại khuôn viên Thành ủy Hà Nội: “Ngoài vẻ đẹp óng ả vào thu của những cây lộc vừng, ngay trước cổng Thành ủy, cứ vào đầu xuân mọi người còn được ngắm nhìn một màu hoa trắng rực rỡ, tinh khôi của hai cây sưa, giống như hai bình hoa khổng lồ đặt trước cổng. Cũng vẫn là hai cây sưa ngày ngày lá xanh mượt mà, khi vào xuân bỗng chốc hóa thành hai cây hoa rực rỡ. Toàn thân cành chỉ có hoa là hoa, tựa hồ như một sự phô bày, hiến dâng của thiên nhiên đối với con người”.

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).