Một cuốn sách ‘hoành tráng’ bên ngoài, sơ sài bên trong

Sách "Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX" của tác giả Lê Thành Khôi viết bằng tiếng Pháp, được dịch ra tiếng Việt và Nhà xuất bản Thế Giới ấn hành. Với hơn 600 trang sách in khổ lớn (17x25cm), tác giả là một học giả gốc Việt có danh tiếng tại Pháp và được một giáo sư sử học có uy tín trong nước viết lời giới thiệu, quả thật đã làm choáng ngợp độc giả.

Tuy nhiên, nguồn tư liệu trong sách không có gì mới, đã được đề cập quá nhiều trong các sách lịch sử xuất bản tại Việt Nam từ trước đến nay. Cách nhìn nhận, đánh giá vấn đề của tác giả vẫn theo một khuôn sáo cũ. Chưa kể tác giả đã vướng mắc nhiều sai sót về kiến thức cơ bản hoặc đưa ra những nhận định chủ quan thiếu cơ sở khoa học.

Ở trang 69, khi viết về Vương quốc Văn Lang, tác giả đã bộc lộ sự sai lệch: "Con trai cả của Âu Cơ cai trị Văn Lang với danh hiệu Hùng Vương. Kinh đô vương quốc đặt tại Mê Linh (Phong Châu dưới nhà Đường, ngày nay là Hy Cương trong tỉnh Vĩnh Phú)… Vua đặt các em làm lạc hầu và lạc tướng… các quan nhỏ gọi là bồ chính. Quyền bính được truyền từ cha tới con (phụ đạo)".

Một sự nhầm lẫn tai hại giữa truyền thuyết và sự thật lịch sử. Theo sử sách, thủ lĩnh bộ lạc Văn Lang - bộ lạc hùng mạnh nhất trong 15 bộ lạc của tộc người Lạc Việt sinh sống rải rác trên địa bàn Bắc bộ và Bắc Trung bộ ngày nay - đã thành lập nhà nước Văn Lang, lấy hiệu là Hùng Vương. Hai địa danh hoàn toàn khác nhau: Phong Châu thuộc tỉnh Phú Thọ, Mê Linh thuộc tỉnh Vĩnh Phúc (hiện nay thuộc Hà Nội). Nhà nước Văn Lang chia đất nước làm 15 đơn vị hành chính gọi là bộ, tương ứng với từng khu vực sinh sống của các bộ lạc ngày trước; thủ lĩnh bộ lạc tại địa phương được vua phong làm Lạc tướng cai quản trực tiếp bộ đó. Bồ chính hay còn gọi là Già làng là người đứng đầu đơn vị hành chính cấp cơ sở (làng xã) do dân bầu lên.

Ở trang 450, tác giả viết về khởi nghĩa nông dân ở Bắc Bộ vào thế kỷ XIX: "Các lãnh tụ nông dân như Phan Bá Vành lôi kéo hàng mấy chục nghìn người nông dân nghèo khổ cùng với các nhà nho và đã chống cự trong vòng sáu năm với các lực lượng cơ binh trong vùng bờ biển từ Quảng Yên đến Sơn Nam (1821-1827)".

Bìa sách “lịch sử Việt Nam - từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX”.
Bìa sách “lịch sử Việt Nam - từ nguồn gốc đến giữa thế kỷ XX”.

Sự thật cuộc khởi nghĩa do Phan Bá Vành - xuất thân tá điền - lãnh đạo, có các thủ lĩnh xuất thân từ tầng lớp nông dân nghèo hoặc tiểu sử không rõ ràng như Nguyễn Hạnh, Hai Đương…, và chỉ có thêm một võ quan cấp thấp trong quân đội nhà Nguyễn là Vũ Đức Cát gia nhập chứ không có bất cứ nhà nho nào trong hàng ngũ chống lại triều đình này cả. Viết như vậy là một sự "vơ vào", không chính xác.

Ở nhiều chỗ do không chịu tra cứu kỹ nên tác giả chỉ phỏng đoán, như trang 460 khi viết về Nguyễn Trường Tộ: "Từ năm 1863 tới khi qua đời năm 1871, ông gửi không dưới 15 bản điều trần lên triều đình để yêu cầu cải tổ đất nước tận gốc rễ". Sự thật, từ năm 1863 đến trước khi Nguyễn Trường Tộ qua đời ông đã gửi tất cả 68 bản điều trần lên triều đình đề nghị canh tân. Một con số lớn như vậy mà tác giả chỉ nhớ mang máng là "trên 15 bản"(?)

Khi viết về khởi nghĩa Trương Định, tác giả đã có nhận định nhầm lẫn: "Mặc dù bị triều đình Huế giáng chức, người anh hùng vẫn không chịu buông khí giới. Ông tiếp tục cuộc chiến tranh du kích không khoan nhượng chống lại người Pháp dọc theo "mười tám thôn vườn trầu" của Gia Định…" (tr. 468).

Trên thực tế, Trương Định không hề bị triều đình giáng chức mà ngược lại ông được phong chức lãnh binh tỉnh An Giang, nhưng ông không nhận chức vụ mà tiếp tục cùng nhân dân chống Pháp. Ông xây dựng căn cứ kháng chiến tại Gò Công (Tiền Giang), cách khá xa "mười tám thôn vườn trầu" ở Gia Định như tác giả đã viết.

Ở thời điểm vua Tự Đức qua đời (1883) cho đến phong trào Cần Vương (1885 - 1889), tác giả lại tiếp tục sai sót: "Vua Tự Đức qua đời ngày 17/7, tuyệt vọng trước việc di sản quốc gia bị cắt xén. Các quan phụ chính Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đưa hoàng tử Hiệp Hòa lên ngôi" (tr. 476).

Năm 1883, vua Tự Đức qua đời, vì không con nối dõi nên ông để lại di chúc cho người con nuôi là Dục Đức nối ngôi, nhưng ông này chỉ ngồi trên ngai vàng 3 ngày thì bị hai vị phụ chính đại thần là Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết phế truất, đưa một vị hoàng thân là Lãng Quốc công Hồng Dật lên ngôi lấy hiệu là Hiệp Hòa. Tác giả muốn "đốt cháy giai đoạn" nên tự tiện cắt xén bớt lịch sử, bỏ qua Dục Đức và đưa thẳng Hiệp Hòa lên ngôi (!).

"Hàm Nghi bị đưa đi đày ở Angiêri, nhưng ngọn lửa kháng chiến còn kéo dài được hơn 20 năm nữa" (tr.484). Thực tế, sau khi vua Hàm Nghi bị Pháp bắt (1888) và đày sang châu Phi, phong trào kháng Pháp kéo dài đến năm 1895 thì chấm dứt với sự thất bại của khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo - cuộc khởi nghĩa cuối cùng trong phong trào Cần Vương. Như vậy phong trào chỉ kéo dài thêm 7 năm nữa mà thôi.

Ở trang 485: "Hoàng Hoa Thám quen gọi Đề Thám lãnh đạo cuộc kháng chiến. Từ căn cứ của ông ở Yên Thế, vị thủ lĩnh dũng cảm, với một nghị lực bất khuất này, mở các cuộc tấn công định kỳ vào các tỉnh Bắc Giang, Thái Nguyên và Hưng Hóa…". Tỉnh Hưng Hóa thời phong kiến nhà Nguyễn bao trùm cả khu vực Tây Bắc, thời Pháp thì Hưng Hóa phần lớn thuộc địa phận tỉnh Phú Thọ ngày nay, cách xa Bắc Giang cả trăm km. Phạm vi hoạt động của Hoàng Hoa Thám chỉ loanh quanh dăm tổng ở huyện Yên Thế (Bắc Giang). Ông làm gì có đủ lực lượng lớn để có khả năng mở rộng địa bàn hoạt động đến một nơi quá xa đại bản doanh như vậy?

Sang phần viết về phong trào đấu tranh đầu thế kỷ XX, nhầm lẫn lại tiếp tục. Ở trang 487 có đoạn viết về Phan Bội Châu: "Đỗ đầu trong khoa thi hội ở Vinh, ông từ chối vị trí dành cho mình… Sau khi đi từ Nam ra Bắc và gặp Đề Thám tại đây, đồng thời nhận ra sự hẹp hòi trong cái nhìn của Đề Thám, ông xuất bản một bài văn đả kích mang tựa đề Lưu cầu huyết lệ tân thư, trong đó miêu tả nỗi nhục của dân tộc". Thi Hội là Đại khoa được tổ chức tại kinh đô Huế để chọn tiến sĩ, phó bảng. Ở Nghệ An chỉ có thi Hương để chọn cử nhân, tú tài. Phan Bội Châu đỗ Giải nguyên (Cử nhân thủ khoa) tại trường thi Nghệ An năm Canh Tý (1900). Ông viết "Lưu Cầu huyết lệ tân thư" nhằm kích thích lòng yêu nước, kêu gọi nhân dân đấu tranh chứ không phải mục đích đả kích Đề Thám.

Ở trang 490, tác giả có đến mấy sai sót: "…một vụ âm mưu nổi dậy ở Nam Kỳ với Gilbert Chiếu được ghi nhận năm 1913", "…tháng 3-1915, Nguyễn Hải Thần từ Quảng Tây tìm cách hạ đồn Tà Lùng (Lạng Sơn) nhưng đã bị đẩy lui", "Mặc dầu bị tra tấn, Lương Ngọc Quyến vẫn cố tìm cách lên tinh thần các bạn hữu và lôi kéo đội dân quân tự vệ", "…Trịnh Văn Cấn vào bưng ở Yên Thế, lãnh thổ của Đề Thám xưa, cầm cự trong nhiều tháng trước khi ngã gục", "Chính vào năm 1917 này, Quảng Châu nổi dậy chống lại chính quyền Bắc Kinh và sự trở lại của Tôn Dật Tiên khiến Phan Bội Châu được thả tự do. Nhưng chẳng có mấy hy vọng ở châu Âu. Ông tiếp tục cuộc sống nay đây mai đó tại Trung Quốc, Nhật Bản và Xiêm, viết báo để kiếm sống" v.v…

Sự thật, Trần Chánh Chiếu là một nhà văn, nhà báo, nhà hoạt động dân chủ ôn hòa chứ không theo xu hướng bạo động nên không có âm mưu nổi loạn. Tác giả nhầm với vụ nổi loạn năm 1913 ở Nam Kỳ do Phan Xích Long chủ trương. Đồn Tà Lùng thuộc Cao Bằng chứ không phải Lạng Sơn. Lương Ngọc Quyến lôi kéo đội lính khố xanh (lính địa phương người Việt thời Pháp thuộc bảo vệ trị an trong một tỉnh) chứ không phải là dân quân tự vệ.

Trịnh Văn Cấn chống trả không nổi với binh lực Pháp đã rút quân khỏi thị xã Thái Nguyên về vùng Tam Đảo, giáp tỉnh Vĩnh Yên thời bấy giờ; sau đó quay sang Đại Từ (Thái Nguyên) rồi thế cùng lực kiệt phải tự sát để khỏi rơi vào tay giặc, chứ ông không vào bưng Yên Thế là lãnh thổ của Đề Thám ngày trước. Kể từ năm 1917 cho đến khi bị bắt vào năm 1925, Phan Bội Châu hoạt động cách mạng ở Trung Quốc chứ không sang Xiêm hoặc Nhật Bản...v.v…

Nguồn tư liệu quá lạc hậu, cách viết vắn tắt sơ lược, lại vướng mắc rất nhiều sai sót về kiến thức cơ bản mà ở trên chúng tôi chỉ nêu ra một số ít. Vì vậy, nhãn, mác bề ngoài trông rất hấp dẫn, cuốn sách vẫn không giúp ích gì được cho thực chất sơ sài ở bên trong.

Phú Trường

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).