Một cuốn sách gán ghép tùy tiện

Sách "Anh hùng Võ Duy Dương chống Pháp ở Đồng Tháp Mười (Người con của Quảng Ngãi trên đất Tháp Mười)" của tác giả Thượng Hồng viết về nhân vật lịch sử Võ Duy Dương ở thế kỷ XIX, do NXB Thanh Niên ấn hành. Cuốn sách dày gần 400 trang là một sự pha tạp giữa nghiên cứu lịch sử và sáng tác tiểu thuyết, thật giả lẫn lộn. Hơn nữa, đó là một sự bịa đặt và gán ghép tuỳ tiện, bất chấp sự thật lịch sử.

Nổi bật trong cuốn sách này là sự khẳng định của tác giả: Võ Duy Dương - anh hùng chống Pháp ở Đồng Tháp Mười - là con trai của Tổng đốc Võ Duy Ninh. Xin tóm lược tiểu sử Võ Duy Ninh: Ông sinh năm 1804 tại làng Đại An, xã Hành Phong (nay là xã Hành Thuận), huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi, đỗ cử nhân tại trường thi Thừa Thiên năm 1834 rồi ra làm quan, trải qua nhiều chức vụ: Hành tẩu Bộ Lễ, Bố chánh Phú Yên, Tham tri Bộ Lại…

Tháng 11- 1858 được bổ nhiệm chức Hộ đốc thành Gia Định, đầu năm 1859 được thăng chức Tổng đốc Định - Biên (Gia Định và Biên Hoà). Tháng 2 - 1859, quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, Võ Duy Ninh đã tổ chức chống trả quyết liệt nhưng không địch nổi với hoả lực của giặc, ông bị trọng thương, phải rút lui về làng Phước Lý (ngoại thành Gia Định), sau đó ông tự vẫn.

Võ Duy Ninh có hai người vợ và sinh được 4 người con (2 trai, 2 gái). Khi nghe tin Võ Duy Ninh qua đời, bà vợ thứ nhất của ông cùng với một trong 2 người con trai là Võ Duy Lập lúc đó 16 tuổi đã từ Quảng Ngãi lặn lội vào Gia Định hơn 1 năm trời mới tìm được hài cốt của ông, đưa về quê an táng. Tại Gia Định, Võ Duy Lập bị quân Pháp bắt giam vì bị tình nghi theo nghĩa quân chống Pháp. Sau đó ông Võ Duy Lập trốn thoát được và gia nhập nghĩa quân Trương Định, được thăng đến Suất đội.

Ở trong sách, tác giả Thượng Hồng không biết vì mục đích hoặc động cơ nào đó đã cố ý gán ghép một cách khiên cưỡng rằng Võ Duy Lập là Võ Duy Dương: "Theo gia phả họ Võ Duy thì ngài Võ Duy Ninh có hai con trai, một tên là Ngọc, một tên là Lập. Võ Duy Lập theo cha vào Gia Định và sau biến cố 6-3-1859 (Pháp phá thành Gia Định) đã thất lạc với cha mình, rồi bị Pháp truy nã, phải lẩn tránh và sau Gia Nhập lực lượng nghĩa quân Trương Định.

Để tránh sự truy tìm của kẻ thù, Võ Duy Lập đã cải tên mình thành Võ Duy Dương"(tr.24). Theo gia phả thì Võ Duy Lập là con trai Võ Duy Ninh là chính xác, nhưng Võ Duy Lập là Võ Duy Dương thì tác giả sử dụng nguồn tài liệu rất mơ hồ là dựa vào lời kể của một lão nông ở Lý Nhơn (huyện Cần Giờ, TP.Hồ Chí Minh) sống ở đầu thế kỷ XXI, không có một bằng chứng cụ thể nào cả về văn bản, sách vở, nhưng lại khẳng định một cách cẩu thả: "Không nghe sách vở nào nhắc, nhưng tôi dám chắc rằng ngài Võ Duy Dương là con của quan Tổng đốc Định Biên (Gia Định - Biên Hoà)"…

Không có một bằng chứng cụ thể, nhưng dám khẳng định chắc chắn, có lẽ đây là phương pháp nghiên cứu lịch sử "độc nhất vô nhị" của nhà nghiên cứu Thượng Hồng chăng (?)

Tóm lược tiểu sử Võ Duy Dương: Võ Duy Dương sinh năm 1827 tại thôn Cù Lâm Nam, huyện Tuy Viễn, trấn Bình Định (nay là xã Nhơn Tân, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định) trong một gia đình nông dân. Năm 1857, ông vào Nam Bộ lập nghiệp; hưởng ứng chính sách khai hoang của Nguyễn Tri Phương, ông đã chiêu mộ người khai hoang lập ấp ở đất Ba Giồng (ngày nay thuộc huyện Cai Lậy và Cái Bè, tỉnh Tiền Giang).

Tháng 2-1859, quân Pháp đánh thành Gia Định, ông chiêu mộ dân dõng kéo đi ứng cứu, được phong chức Chánh quản đạo. Thành Gia Định bị Pháp chiếm, ông đi đường biển ra kinh đô hiến kế chống giặc. Vào khoảng thời gian đó, ông tham gia đánh dẹp giặc cướp Tàu Ô và loạn Đá Vách (Thạch Bích), lập được chiến công nên được triều đình phong phẩm hàm Chánh Bát phẩm Thiên hộ, vì vậy người đời thường gọi ông là Thiên hộ Dương.

Năm 1861, ông vào Nam Bộ chiêu mộ nghĩa quân chống Pháp. Ông lập căn cứ kháng chiến ở Đồng Tháp Mười. Tháng 4 - 1866, quân Pháp mở cuộc tấn công đại quy mô vào căn cứ, nghĩa quân chống trả quyết liệt nhưng do vũ khí thô sơ nên phải rút lui khỏi căn cứ; tháng 10 cùng năm, ông trở ra Bình Thuận bằng đường biển nhưng bị nạn mất tại cửa biển Cần Giờ.

Từ trước đến nay rất nhiều công trình sử học với đầy đủ các chứng cứ, văn bản có giá trị đã khẳng định Võ Duy Dương quê ở thôn Cù Lâm, xã Nhơn Tân, huyện An Nhơn, Bình Định, như: Định Tường Thủ khoa Nguyễn Hữu Huân tiểu truyện (không đề tên tác giả, do Trần Văn Thông là cháu ruột Võ Duy Dương chép lại, in Văn hoá nguyệt san Sài Gòn, 1960), Võ Duy Dương với cuộc kháng chiến Đồng Tháp Mười (Nguyễn Hữu Hiếu chủ biên, NXB Tổng hợp Đồng Tháp, 1992), tờ cam kết lập năm Thành Thái thứ 12 do con trai Võ Duy Dương là Lý trưởng Võ Hữu Dũng ấn ký (hiện lưu giữ tại đền thờ Võ Duy Dương ở xã Nhơn Tân)…

Như vậy, qua những đối chứng, so sánh căn cứ trên tư liệu, có thể thấy giữa ông Võ Duy Ninh ở Nghĩa Hành, Quảng Ngãi và ông Võ Duy Dương ở An Nhơn, Bình Định là hai người hoàn toàn không có mối quan hệ cha con nào như tác giả Thượng Hồng đã, gán ghép tuỳ tiện.

Bên cạnh sự gán ghép khiên cưỡng vừa nêu trên thì trong sách còn chứa nhiều sai sót, nhầm lẫn về kiến thức lịch sử, đôi chỗ tác giả còn bịa đặt ra những chi tiết hoang đường chưa hề có trong các tài liệu lịch sử từ trước đến nay. Xin đơn cử một vài trong hàng chục trường hợp sai sót, nhầm lẫn hoặc bịa đặt.

Khi viết về việc quân Pháp đánh chiếm thành Gia Định, tác giả đã nhầm lẫn: "Tháng 2-1859, gần một vạn quân Pháp với nhiều chuyến thuyền và nhiều súng ống tối tân kéo từ Đà Nẵng vào, đã bất thần tấn công thành Gia Định từ cửa Cần Giờ.

Ngày 6-3-1859, quân Pháp phá được thành sau gần một tháng kháng cự…" (tr.23). Sự thật được ghi chép trong sử sách từ trước đến nay: Từ ngày 2 đến ngày 9-2-1859, quân Pháp tập trung ở Vũng Tàu; ngày 11- 2-1859, hai chục tàu chiến của Pháp kéo vào cửa sông Cần Giờ; ngày 16- 2-1859 tàu chiến của giặc dàn trận trước thành Gia Định và buổi sáng ngày hôm sau (17-2-1859), chúng nổ súng đánh chiếm thành sau mấy giờ tấn công.

Như vậy, từ thời điểm tàu chiến Pháp bắt đầu đến cửa biển Vũng Tàu cho đến khi chúng đánh chiếm thành Gia Định chỉ mất khoảng nửa tháng mà thôi. Riêng về quân số "gần một vạn quân Pháp", chúng tôi chắc chắn chỉ là sự tưởng tượng!

Viết lịch sử ở thế kỷ XIX, nhưng tác giả lại tô vẽ những chi tiết của thế kỷ XX: "… đêm hôm đó nghĩa quân đã lặn xuống xác tàu, mò lên hầu hết vũ khí bị chìm: Thu 2 trọng pháo với đầy đủ đạn, gần 60 súng máy các loại, hơn 200 khẩu súng trường cùng đạn đến vài ngàn viên" (tr.99), "… họ biết sử dụng súng phóng lựu, trọng pháo…"(tr. 258)…

Ở thế kỷ XIX, quân Pháp và kể cả quân đội các nước tiên tiến ở phương Tây với vũ khí tối tân nhất thời bấy giờ là súng trường cá nhân (bắn và nạp đạn từng phát một) và đại bác, chứ làm gì thời đó đã chế tạo được súng máy và súng phóng lựu; những loại vũ khí này phải đến thập niên 20 của thế kỷ XX mới được chế tạo. Hay là tác giả Thượng Hồng ở thế kỷ XXI đã chế tạo giúp các loại vũ khí này (súng máy, súng phóng lựu) cho quân Pháp ở thế kỷ XIX (?)

Bên cạnh những sai sót là những chi tiết rất hoang đường, vô lý: "… để chuẩn bị cho cuộc sống lâu dài, ông Trương Định đã tổ chức cho nghĩa binh tự túc gieo trồng đủ loại lương thực ở vùng mà trước đó chưa một ai trồng, vì sợ nó không mọc được. Có lẽ trời thương những người yêu nước, nên lúa đã nảy mầm trên vùng đất ngập mặn và phát triển tốt!" (tr.98), hoặc những đoạn bịa đặt như đánh giặc bằng rắn thần (tr.248-254), ong vò vẽ (tr.239-247)…mà chẳng có sử sách nào ghi chép từ trước đến nay.

Tóm lại, sách "Anh hùng Võ Duy Dương chống Pháp ở Đồng Tháp Mười (Người con của Quảng Ngãi trên đất Tháp Mười)" của tác giả Thượng Hồng là một tác phẩm gán ghép một cách tuỳ tiện, phi sự thật lịch sử. 

Lương Sơn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).