Mạng lưới gián điệp của Hải quân Thiên hoàng trước trận Trân Châu Cảng: Đối đầu với FBI

Trong 2 năm trước khi xảy ra chiến tranh, chính phủ Mỹ tỏ ra cảnh giác cao về các hoạt động gián điệp và phá hoại của Nhật Bản, đặc biệt là từ Mexico.

Năm 1940, các quan chức ONI báo cáo trước quốc hội Mỹ rằng tin đồn về việc Hải quân Nhật có 1.000 chiến cơ trên các cánh đồng gần vịnh Rùa (Mexico) là không có thật. Tuy nhiên cũng chính ONI đã khiến Hải quân Mỹ báo động cao vào ngày 17/10/1940 rằng Tokyo đang giấu 12 oanh tạc cơ ở Baja California và có kế hoạch dùng chúng đánh bom bổ nhào xuống các con tàu ở San Diego.

Phản gián Mỹ vất vả tìm kiếm những chiếc máy bay không có thực, những kẻ phá hoại và trên hết là sự hoài nghi về các tàu đánh cá hơn là con người và gián điệp điện tử mà Nhật đang hoạt động ở nam biên giới. Bộ trưởng Hải quân Mỹ, Claude Swanson, báo cáo rằng ông tin chắc người Nhật hoạt động gián điệp ở Mexico trong một bản ghi nhớ gửi cho Ngoại trưởng Cordell Hull vào tháng Giêng năm 1935.

Đối đầu với FBI [Bài cuối] -0
Itaru Tachibana, điệp viên nổi tiếng của quân đội Hải quân Thiên hoàng Nhật Bản hoạt động tại Mỹ. Ảnh nguồn: Wikipedia.

Tình báo hải quân Mỹ nhanh chóng đến gặp người đứng đầu Đại sứ quán Mỹ ở Mexico City và yêu cầu Tổng thống Roosevelt phê chuẩn một tùy viên hải quân mới cho Mexico. Ngoài các nhiệm vụ thông thường của mình, viên sĩ quan này còn được trao một chiếc oanh tạc cơ trinh sát Vought để có thể tuần tra cá nhân trên bờ biển Thái Bình Dương. Họ chú ý các tàu đánh cá Nhật Bản. Tháng 8/1941, Hải quân Mỹ báo cáo cho FBI rằng có hàng trăm tàu đánh cá Nhật Bản có thể đưa người và vật liệu đến bất kỳ vị trí nào trên bờ biển Mỹ. Sau chiến tranh, Đô đốc Shimada đánh giá giá trị của các tàu đánh cá từ thang điểm 1 đến 10.

Có rất ít bằng chứng về bất kỳ mối đe dọa nghiêm trọng nào đến lục địa Mỹ từ các tàu đánh cá, máy bay, hoặc bất kỳ kẻ phá hoại hay âm mưu nào khác của Nhật Bản, chủ yếu là vì chúng dường như không tồn tại. Chính phản ứng thái quá này là căn nguyên khiến các công dân Mỹ gốc Nhật bị bắt giam trong chiến tranh. Trên thực tế, IJN vẫn tiếp tục sử dụng các tùy viên hải quân và những điệp viên không phải gốc Nhật để lấy thông tin tại Mỹ. Mặc dù lãnh đạo IJN không đặt niềm tin nhiều vào gián điệp, nhưng các sĩ quan được phái đến Mỹ làm điệp viên đều có động cơ cao thường do mắc lỗi. Chính việc này đã khiến họ phạm sai lầm trong lúc tác nghiệp.

Thời điểm Ken Ringle tiến hành đột kích đại sứ quán Nhật thì mạng lưới tình báo của IJN đã rất nguy hiểm. Itaru Tachibana đứng đầu các hoạt động gián điệp từ Los Angeles và thu thập tình báo từ các tùy viên khác trên đất Mỹ. Frederick Rutland tập trung vào công tác liên lạc với các điệp viên Nhật ở Mexico.

IJN hy vọng rằng Rutland có thể tiếp tục thu thập tình báo về công tác chuẩn bị của Hải quân Mỹ và sản xuất máy bay, đồng thời có thể chuyển những thông tin này qua biên giới và từ đó đưa về Tokyo. Tuy nhiên, Rutland đã phạm sai lầm khi tham gia vào các hoạt động tình báo của Itaru Tachibana. Rutland tự tin về những mối quan hệ gần gũi của mình với các tổ chức Nhật Bản. Rutland theo đuổi thông tin về công nghệ máy bay Mỹ. Rutland là công dân của một nước thứ 3, Anh quốc (nước không chính thức là đồng minh với Mỹ tại thời điểm đó) nên các nỗ lực của ông nhằm thay mặt cho người Nhật được xem là hợp pháp.

Tuy vậy khi tình hình chính trị trở nên căng thẳng và hoạt động gián điệp của người Nhật ngày càng mạnh hơn thì Rutland bắt đầu thấy nguy hiểm. Rutland lên kế hoạch tiếp cận Tình báo Hải quân Mỹ (ONI) và trở thành một điệp viên kép cho người Mỹ trong khi vẫn tiếp tục làm việc cho IJN. Trò chơi nguy hiểm này bước đầu đã thành công. Mặt khác, hóa ra nỗi sợ của Rutland là có cơ sở.

Tháng 6/1941, FBI bắt giữ Itaru Tachibana và Toraichi Kono (quản gia lâu năm của vua hài Charlie Chaplin). Toraichi Kono có mối quan hệ tốt ở Los Angeles và dường như đang giải ngân cho nhiều tài sản gián điệp Nhật Bản. Nhận thấy việc bắt giữ thêm chỉ còn là vấn đề thời gian, các điệp viên Nhật được lệnh phải đào tẩu khỏi Los Angeles đến Mexico cùng với người quản lý tiền lương của họ tại Ngân hàng Yokohama Specie. Tại thời điểm này rõ ràng IJN đã phát hiện ra Rutland đang chơi trò hai mặt.

Một bức điện tín từ lãnh sự quán Nhật ở Los Angeles gửi đến đại sứ quán Nhật ở Washington với đề nghị rằng Rutland đang quan hệ gần gũi với ONI và không nên dùng ông ta để bảo lãnh Toraichi Kono ra khỏi tù. Về phần mình, FBI báo cáo rằng đã tìm thấy bằng chứng khói súng trong công việc của Rutland làm cho IJN trong hồ sơ của Itaru Tachibana. Rutland đọc chữ viết trên tường và đến Washington để vận động hành lang nhằm được ONI bảo vệ cá nhân.

Các điệp viên FBI đã theo sát Rutland khi ông ta bước vào trụ sở ONI. Các sĩ quan ONI đã từ chối giúp đỡ ông ta. Rutland gặp 2 người của đại sứ quán Anh và họ thuyết phục ông ta quay lại Anh, cũng là dịp loại bỏ ông ta nhằm tránh thêm một vụ bê bối nào đó có thể khiến người Anh xấu hổ trong mắt Hoa Kỳ vào thời điểm quan trọng của chiến tranh. Giờ đây Rutland nỗ lực cho một cuộc gặp cuối cùng với IJN, hoặc là một âm mưu làm điệp viên kép cho Tokyo.

Đối đầu với FBI [Bài cuối] -0
Tàu sân bay USS Yorktown (CV-5) trong ụ tàu tại Cảng hải quân Trân Châu Cảng vào ngày 29/5/1942, một ngày trước khi máy bay Nhật nhận lệnh do thám các vị trí của hạm đội tàu sân bay Mỹ. Ảnh nguồn: National Archives.

Tháng 11/1940, Tsunezo Wachi cùng với một nhóm các chuyên gia mã và đánh chặn vô tuyến đến Mexico. Tàu chở người của Waichi đến San Francisco vào ngày 9/12, các điệp viên FBI để mắt và ghi chú cẩn thận. Liền đó Wachi lên một con tàu khác đến Manzanillo, nơi ông ta sẽ xuống tàu và đến Mexico City. Rất nhanh chóng, Wachi đã thiết lập trạm chặn vô tuyến của mình ở Calle Orizaba cùng với 1 sĩ quan và 4 thủy thủ được đào tạo để đánh chặn vô tuyến.

Buổi ban đầu Wachi gặp sự cố trong việc chặn lưu lượng vô tuyến Mỹ. Wachi dùng đầu thu vô tuyến  IJN Lớp 92 không thể bắt sóng dài hơn, bước sóng 15kc VLF được Hải quân Mỹ sử dụng ở Đại Tây Dương. Rồi Wachi lên máy bay tới New York để mua một đầu thu RCA mới nhằm đánh chặn các chương trình phát sóng hải quân của Washington cũng như sóng vô tuyến của hạm đội Đại Tây Dương, mặc dù ông ta vật lộn với việc phá mã do những thay đổi trong mã hải quân Mỹ trong tháng 4 năm 1941.

Vào tháng 2/1941, chính phủ Nhật đặt trọng tâm vào gián điệp. Các quan chức IJN dự đoán rằng trong trường hợp xảy ra chiến tranh, thì các mạng lưới gián điệp của Nhật trên khắp các quốc gia Mỹ Latinh sẽ được tập trung ở Mexico, với các trạm bổ sung ở Rio de Janeiro, Buenos Aires và Santiago. Ngày 2/6/1941, Ngoại trưởng Yosuke Matsuoka đã gửi cho đại sứ Nhật ở Mexico một bức điện tín trong đó nói rằng Mexico City giờ đây sẽ là trung tâm của các hoạt động chống Mỹ. Vài ngày sau, Itaru Tachibana và Torachi Kono bị tóm. Tổng giám đốc Cục Ngoại giao Mỹ, Taro Terasaki, tuyên bố rằng ông không biết gì về hoạt động của Tachibana (của IJN) và cáo buộc IJN phá hoại những nỗ lực ngoại giao của đất nước. Terasaki đề nghị Bộ Ngoại giao Nhật giúp bảo lãnh Torachi Kono ra khỏi tù nhưng tiền bảo lãnh sẽ lấy từ ngân sách của Hải quân Nhật. 

Hoạt động tình báo của Bộ Ngoại giao Nhật ở Mexico thật sự là có logic. Trong suốt Thế chiến I, chính phủ Mexico đặc biệt thù địch với các lợi ích Mỹ. Song thật không may cho Tokyo là vào năm 1941, Tổng thống mới của Mexico, Manuel Ávila Camacho, và nội các của ông là những người ủng hộ Mỹ. Yoshiaki Miura, đại sứ Nhật tại Mexico, tỏ ra hết sức lúng túng với tình thế thay đổi trong tháng 7/1941.

Ngày 5/7/1941, Miura gửi một bức điện tín có nội dung mạnh mẽ tới Bộ Ngoại giao Nhật tuyên bố rằng việc dùng Mexico City làm căn cứ cho các hoạt động thời chiến sẽ không có kết quả vì Mexico ủng hộ Mỹ trong một cuộc chiến tương lai và chắc chắn sẽ đóng cửa các hoạt động của ông ta (Miura). Tới ngày 10/7/1941, Ngoại trưởng Matsuoka đã hạ lệnh cho thư ký đại sứ quán Taro Terasaki đi từ Washington đến Mexico để báo cáo tình hình. Terasaki và Miura cùng nói rằng nếu một cuộc chiến nổ ra với Mỹ thì Tổng thống Camacho sẽ trục xuất toàn bộ quan chức Nhật Bản.

Ngoại trưởng Matsuoka cho rằng nếu chiến tranh nổ ra, Mexico sẽ chính thức hoặc gián tiếp gia nhập Đồng Minh. Terasaki tiếp tục xem xét kế hoạch hành động ở Mexico. Một ưu tiên gián điệp của Nhật Bản là tiếp tục thu thập thông tin nguồn mở từ báo chí Mỹ. Terasaki cũng xác định thêm rằng Brazil cũng sẽ hỗ trợ Đồng Minh trong chiến tranh tương lai. Terasaki cho rằng bất kỳ điệp viên Nhật nào ở Mexico cũng cần gửi thông tin cho Tây Ban Nha hoặc Argentina để từ đó chuyển về Nhật Bản.

Bằng hai phương thức tuyên truyền và “đút lót”, Terasaki đã làm suy yếu sự ủng hộ của chính phủ Mexico đối với Mỹ. Cách tiếp cận này dường như đã mang lại một số thành công, nhưng nó cũng có khả năng sẽ thay đổi chính sách tổng thể của Mexico đối với Nhật Bản. Hối lộ có vẻ là chiêu thành công hơn. Nhật Bản thiếu thủy ngân dùng để sản xuất kíp nổ và không thể mua từ Mexico do các lệnh trừng phạt quốc tế. Và Wachi đã “đút lót” cho một viên tướng Mexico để sắp xếp một lô thủy ngân và cho các điệp viên Mexico buôn lậu nó đến Nhật Bản.

Một việc khác, Bộ Ngoại giao Nhật tỏ ra ấn tượng với đội đánh chặn của Wachi và đề nghị giúp đánh chặn các liên lạc Mỹ liên quan đến những đàm phán hòa bình đang diễn ra. IJN tiếp tục vào đánh chặn quân sự. Wachi đã nỗ lực thực hiện một số nỗ lực tuyển dụng các điệp viên và dùng các điệp viên Mexico để xâm nhập vào Mỹ, chụp ảnh hạm đội Thái Bình Dương nhằm bắt đầu tính toán thiệt hại gây ra trong cuộc tấn công Trân Châu Cảng. Sau đó Hải quân Mỹ kết luận rằng kết quả của những tính toán của Wachi là khá chính xác. Mặt khác, cả Hải quân Mỹ và IJN đều kết luận độc lập rằng việc dùng thường dân Mexico đóng giả khách du lịch để thu thập tình báo không phải là kế hay.

Những tài liệu thu được trong cuộc đột kích Itaru Tachibana của FBI đã cho thấy cách mà các công ty tư nhân Nhật đã tham gia khá sâu vào hoạt động tình báo và giờ đây họ đang đối mặt với áp lực. Tới tháng 8/1941, văn phòng các công ty Nhật gồm Ngân hàng Yokohama Specie, NYK, Mitsui, Mitsubishi và Sumitomo đã bị đặc vụ của Bộ Tài chính Mỹ đột kích. Lãnh sự quán Nhật ở Los Angeles vẫn tiếp tục lấy thông tin mật bao gồm số lượng chiến cơ được chế tạo và số lần hạ thủy các chiến hạm.

Tuy nhiên những thành công hạn chế này cũng chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn. Mexico cắt đứt quan hệ ngoại giao với Nhật Bản vào ngày 8/12/1941, đóng băng các tài sản ngân hàng do Nhật Bản sở hữu, và đánh tiếng sẽ cho sơ tán hoặc bắt giam các công dân Nhật.  Wachi và mạng lưới của mình đã tăng tốc thu thập tình báo trong khi chuẩn bị cho tình huống bị bắt giữ. Ngày 16/12/1941, Wachi đã phá hủy đầu thu vô tuyến và máy điện báo của mình.

Một nông dân Mexico thấy một toán người Nhật chôn thiết bị lớn xuống đất và báo cảnh sát. Báo chí Mexico đưa tin nghẹt thở. Tháng 4/1942, Wachi, Miura và những người khác được hồi hương theo diện trao đổi ngoại giao. Trước khi rời Mexico, họ đã tổ chức một cuộc chuyển thông tin từ Mexico đến Tokyo thông qua đại sứ quán Tây Ban Nha và đại sứ quán Nhật Bản ở Madrid.

Cuối cùng hoạt động gián điệp và tình báo của IJN ở Mỹ đã thu được một số thông tin hợp lý về công nghệ và chiến thuật Mỹ trước chiến tranh. Nhưng việc mất toàn bộ tài sản IJN ở California vào những tháng trước Trân Châu Cảng đã để lại một lỗ hổng trong thông tin của Tokyo. Hải quân Nhật mất tình báo vô tuyến ở Tây Bán Cầu đã khiến người Nhật chìm trong bóng tối, ngoài việc phân tích các liên lạc và thông tin có sẵn trên báo chí và các nguồn mở khác. 

Eizou Hori, một viên chức tình báo thuộc Tổng hành dinh đế quốc Nhật trong thời chiến viết: “Lỗ hổng lớn nhất trong cuộc chiến tình báo của Nhật Bản là lục địa Mỹ. Quân đội Nhật đã chi rất nhiều tiền để thành lập một mạng lưới thông tin, chỉ phụ thuộc vào một lượng nhỏ người Nhật. Mạng lưới đó đã bị phá hủy hoàn toàn. Với việc tạo ra lỗ hổng, Nhật không hay biết con tàu nào đang đi từ San Francisco, xu hướng sản xuất của quân đội Mỹ, điều động quân đội, sản xuất máy bay. Đây có lẽ là một trong những lý do chính khiến Nhật Bản bại trận”. Cuối cùng, việc IJN thất bại trong việc thiết lập mạng lưới gián điệp và tình báo bền vững ở Mỹ không chỉ khiến Tokyo bị mù sau trận Trân Châu Cảng mà còn trở thành một nhân tố góp phần vào thất bại cuối cùng của Nhật Bản.

Phan Bình (Tổng hợp)

Các tin khác

Những sai lầm tình báo tai hại trong chiến dịch của Mỹ và Israel nhằm vào Iran

Những sai lầm tình báo tai hại trong chiến dịch của Mỹ và Israel nhằm vào Iran

Cuộc đối đầu quân sự giữa liên minh Mỹ - Israel và Iran đang là tâm điểm thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế; song những diễn biến thực sự lại luôn bị che phủ bởi bức màn bí mật. Để làm sáng tỏ những góc khuất trong cuộc chiến tranh tình báo âm thầm tại khu vực đầy biến động này, phóng viên tờ “Argumenty Nedeli” (Luận cứ trong tuần của Nga) đã có cuộc trao đổi với chuyên gia về Trung Đông, Trung tá tình báo Nga Aleksandr Voronin.

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Hoạt động tình báo luôn là động lực thúc đẩy sự đổi mới và các phát minh mang tính đột phá. Trong những năm 1960-1970, các cơ quan tình báo trên thế giới đã tạo ra một khối lượng công nghệ khổng lồ phục vụ cho Chiến tranh Lạnh. Nhiều công nghệ gián điệp được phát triển và sử dụng trong thế kỷ XX hiện vẫn được giữ bí mật. Nhưng ngay cả những gì đã biết cũng đủ khiến người ta phải ngạc nhiên.

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Vụ nổ súng tại bữa tiệc tối dành cho các phóng viên Nhà Trắng chỉ là một trong chuỗi các sự kiện an ninh có liên quan đến Tổng thống Trump kể từ năm 2024.

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Không cần tiếp cận trực diện, mạng lưới thu thập thông tin có thể khởi nguồn từ những tương tác dân sự tưởng chừng vô hại. Vụ việc tại Philippines cho thấy phương thức hoạt động ngày càng tinh vi, khó nhận diện trong môi trường an ninh phức tạp.

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Mỹ và Iran đang “đấu phong tỏa” giữa lúc bế tắc trong đàm phán tiếp tục kéo dài - theo đó Mỹ ra sức phong tỏa các cảng biển Iran để buộc nước này xuống thang trong đàm phán, còn Iran cáo buộc Mỹ vi phạm thỏa thuận ngừng bắn 14 ngày và tuyên bố tiếp tục đóng eo biển Hormuz.

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch phá hoại do cơ quan tình báo quân đội Israel (Aman) tổ chức vào tháng 7/1954 đã thất bại thảm hại. Được xây dựng trên những toan tính thực dụng và chiến thuật phi đạo đức mang tên “hành động dưới màu cờ giả”, chiến dịch này cuối cùng trở nên phản tác dụng đối với chính những kẻ chủ mưu, đồng thời để lại nhiều tranh cãi lớn trong lịch sử ngành tình báo thế giới.

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Cuối thế kỷ XIX, trong suốt hơn 10 năm, nước Pháp tin rằng, Hội Tam Điểm là một tổ chức thờ quỷ với những bí mật đen tối đang bị phanh phui. Nhưng đến năm 1897, người dựng nên toàn bộ câu chuyện ấy công khai thú nhận: từ nhân chứng, tài liệu đến các nghi lễ gây rúng động, tất cả đều là giả. Cú lừa của Léo Taxil vì thế không chỉ là một scandal thế kỷ, mà còn là một minh chứng cho thấy niềm tin xã hội có thể bị dẫn dắt như thế nào.

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Nguy cơ một cuộc khủng hoảng lương thực mới đang bùng nổ khi chỉ số giá lương thực toàn cầu quay đầu tăng tháng thứ hai liên tiếp. Trong bối cảnh xung đột Trung Đông bóp nghẹt nguồn cung phân bón và một “siêu El Nino” được dự báo sẽ tàn phá các vựa lúa lớn nhất hành tinh thời gian tới, liệu chúng ta có thể làm gì để ngăn lại một thảm họa?

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Đầu tháng 10/2017, tại Âu Mỹ người ta đồng loạt phát hành ấn phẩm "King of Spies: The Dark Reign of America’s Spymaster in Korea" (tạm dịch: Vua gián điệp: Thời kỳ suy tàn của trùm tình báo Mỹ tại Triều Tiên) của nhà văn Blaine Harden. Sách mô tả Donald Nichols là “điệp viên giỏi nhất vùng Viễn Đông” hay chiến binh “cuộc chiến một người”.

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Tháng 3 năm nay, tại phiên điều trần trước Ủy ban Tình báo Thượng viện Mỹ, Giám đốc Tình báo Quốc gia Tulsi Gabbard đã trình bày báo cáo “Đánh giá mối đe dọa thường niên” của cộng đồng tình báo nước này. Sau đây, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một số phân tích và nhận định của Đại tá tình báo Igor Orlov, người từng phục vụ trong hàng ngũ KGB, về các nội dung trọng tâm của bản báo cáo này.

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

Đầu tháng 2/2026, Hiệp ước về cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược giữa Mỹ và Nga (Hiệp ước New START) đã chính thức hết hạn mà không có thỏa thuận mới nào được ký kết. New START là trở ngại cuối cùng đối với một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân tiềm tàng giữa Moscow và Washington. Tuy nhiên, theo chuyên gia về chính sách hạt nhân Nicole Grajewski, Nga hiện không đủ nguồn lực để sản xuất hàng loạt các loại vũ khí chiến lược mới.

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Tạp chí trực tuyến Kho lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) của Nga vừa cập nhật vụ án được CIA giải mật theo Đạo luật tiết lộ thông tin, có liên quan đến nữ điệp viên CIA Martha Peterson bị bắt quả tang cùng với điệp viên hai mang của KGB.

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

Khi chiến trường thực địa bị chi phối bởi hỏa lực và không kích, một dạng xung đột khác cũng đã hình thành trong không gian số. Cuộc chiến Cyber warfare (chiến tranh mạng) đã chính thức khai hỏa, đang biến những cơ sở hạ tầng trọng yếu tại Mỹ, Israel và Iran thành những mục tiêu bị tấn công không ngừng nghỉ .

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

Trong bối cảnh các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào hạ tầng số, báo cáo rủi ro thường niên của hãng bảo hiểm Allianz công bố đầu năm 2026 một lần nữa khẳng định nguy cơ đến từ môi trường mạng. Giờ đây, các sự cố an ninh mạng không chỉ là câu chuyện kỹ thuật mà đã trở thành vấn đề sống còn của nền kinh tế toàn cầu, đặt ra áp lực chưa từng có lên các lực lượng bảo vệ không gian mạng.

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập (LAS) được thành lập ngày 22/3/1945 tại Cairo. Dựa trên Nghị định thư Alexandria năm 1944, LAS tuyên bố mục tiêu cốt lõi là thắt chặt quan hệ, phối hợp chính sách, bảo vệ độc lập và chủ quyền của các nước Ả Rập. Ý tưởng về chủ nghĩa Liên Ả Rập là một phản ứng hợp lý đối với việc giải phóng thuộc địa, nhưng hiệp ước của LAS đã đưa ra một quy tắc về sau trở thành hạn chế chính của nó.

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Để thu thập được nhiều thông tin quan trọng, các cơ quan tình báo KGB và Stasi đã thành lập mạng lưới điệp viên "Casanova" (điệp viên “Romeo”). Họ là những người có sức hút đặc biệt và được huấn luyện bài bản các thủ thuật nghiệp vụ. Ở CHDC Đức, kế hoạch đào tạo này mang mật danh “Romeo”; còn ở Liên Xô, các học viên của Trường Kỹ thuật tình báo Lenin được trang bị những phương thức quyến rũ để biến tình yêu thành vũ khí lợi hại.