Mạng lưới điệp viên đầu tiên của Israel

Tháng 9-1917, Chiến tranh Thế giới đang sắp kết thúc. Sarah Aaronsohn cảm giác được cuộc chơi đã kết thúc với mình. Bà biết một đội quân của quân chiếm đóng Thổ Nhĩ Kỳ từ căn cứ ở thành phố Haifa thuộc đất nước Palestine đang trên đường đến Zikhron Yaakov, nơi bà đang cư trú, để tìm kiếm và bắt giữ bà. Thời điểm đó đang vào mùa thu hoạch, người dân Zikhron Yaakov đang tưng bừng mở hội, nhưng tất cả bỗng im bặt khi tiếng gầm rú của xe quân sự Ottoman tiến vào.

Khi quân Ottoman đến, Sarah biết bà không thể nào trốn thoát được. Bà không thể bỏ chạy khỏi nhà, vì bà phải ở lại để chăm sóc người cha già góa bụa. Tài liệu lịch sử không nêu rõ làm thế nào quân đội Ottoman biết bà phản bội họ làm gián điệp cho quân đội Anh, cũng không rõ là họ đã biết nhiều hay ít về các hoạt động tình báo của bà và người anh trai Aaron hơn bà 13 tuổi.

Năm đó Sarah Aaronsohn 27 tuổi. Bà là con gái của một trong những gia tộc danh giá nhất xứ Zikhron Yaakov, thời đó là thuộc địa của đế quốc Ottoman. Họ thuộc nhóm người Do Thái đầu tiên từ Romania di cư đến vùng đất này vào những năm 1880 và khai sinh ra khu định cư Zikhron Yaakov của người Do Thái, nay thuộc Israel. Cư dân trong vùng hầu như không hay biết rằng ngôi nhà gia đình Aaronsohn cư ngụ là trung tâm điều hành của một mạng lưới điệp viên do Sarah Aaronsohn chỉ huy, tự xưng là NILI – viết tắt của cụm từ tiếng Do Thái “sức mạnh của Israel là chân thực”. Đây có thể được xem là mạng lưới tình báo đầu tiên của Israel.

Bà Sarah Aaronsohn.
Bà Sarah Aaronsohn.

Ở Ai Cập, tướng Edmund Allenby, tư lệnh quân đội Anh ở vùng Trung Đông và Bắc Phi, đã tập hợp một lực lượng hỗn hợp gồm quân đội Anh, Australia và các nước Ảrập để chuẩn bị cho một chiến dịch cuối cùng tiêu diệt đế chế Ottoman, đánh đuổi họ ra khỏi Ai Cập, Gaza và dọc theo hành lang đến Jerusalem, đánh thọc sang Damascus.

Trong hơn một năm, các chỉ huy quân đội Anh đóng tại Cairo (Ai Cập) đều đặn nhận được thông tin tình báo chính xác về hoạt động của quân đội Thổ Nhĩ Kỳ trên toàn đất nước Palestine, nay là Israel và các vùng lãnh thổ Palestine. Những thông tin quý giá này được thu thập bởi NILI.

Thời điểm Sarah đợi quân Ottoman đến để bắt mình, thì Aaron đang ở London để chứng kiến việc ký kết một thỏa ước lịch sử giữa chính phủ Anh và ban lãnh đạo Zionist quốc tế, trong đó phân định việc cư trú của người Do Thái và các dân tộc vùng Trung Đông. Theo đó, Palestine sẽ là nơi cư trú của dân tộc Do Thái.

Trước đó khoảng 18 tháng, trong chuyến đầu tiên đến London, Aaron đã tỏ ra khá bàng quan với phong trào Zionist quốc tế. Mục đích thật sự của Aaron khi đến London chỉ là để được nghe các lãnh đạo tình báo Anh đánh giá về chất lượng và giá trị của mình. Chính vì thế mà các lãnh đạo Zionist quốc tế, như Chaim Weizmann không ưa thích Aaron, họ thậm chí còn yêu cầu tình báo Anh cảnh giác với Aaron.

Aaron khi đó đã nổi tiếng trên thế giới với những hoạt động tình báo đấu tranh cho sự nghiệp phục quốc Zionist. Aaron đã tận dụng cơ sở nghiên cứu nông nghiệp của mình tại Athlit, nằm dọc duyên hải gần thành phố Haifa, để làm bình phong che đậy hoạt động tình báo. 

Ban đêm, các tàu chiến Anh đến neo đậu ngoài khơi Athlit để thu nhận nhiều thùng tài liệu tình báo được các thuyền chài nhỏ mang đến. Những thông tin tình báo đó được mang về bộ chỉ huy ở Cairo, nguồn thông tin được mặc định là từ “một cư dân ở Athlit”. Tình báo Anh không chỉ tin tưởng Aaron mà còn đánh giá cao giá trị và năng lực tình báo của ông. Sir Mark Sykes, quan chức tham mưu chiến lược của tình báo Anh, đã rất ấn tượng bởi kiến thức khoa học và trí thông minh của Aaron.

Quả thật thế. Aaron đã hết sức kiên trì để thuyết phục tướng Jemal Pasha, tướng quân quyền lực nhất của Thổ Nhĩ Kỳ, rằng mình nên đến Berlin, Đức (khi đó ủng hộ đế quốc Ottoman trong cuộc chiến) để gặp gỡ một số đồng nghiệp khoa học nhằm thảo luận về tương lai ngành nông nghiệp ở Palestine. 

Tướng Edmund Allenby, chỉ huy quân đội Anh tại Cairo.
Tướng Edmund Allenby, chỉ huy quân đội Anh tại Cairo.

Nhưng khi đến Berlin, sau khi đã bí mật liên lạc với tình báo Anh, Aaron tiếp tục thuyết phục người Đức để cho mình tiếp tục sang Mỹ (thời điểm đó là tháng 10-1916, Mỹ chưa tham gia Chiến tranh Thế giới lần I) nghiên cứu khoa học và được đồng ý. Một điều thuận lợi cho Aaron là thời điểm đó, ông được người Mỹ biết đến nhiều vì những nghiên cứu khoa học về nông nghiệp, và chính các nhà quản lý ngành nông nghiệp Mỹ đã mời Aaron sang Mỹ, tạo cái cớ hoàn toàn hợp lý cho ông. 

Tuy nhiên, Aaron không đi thẳng đến Mỹ ngay. Ông đến Copenhagen (Đan Mạch) và lên tàu Oskar II để đi sang Mỹ. Nhưng, theo kế hoạch đã ước định sẵn, chuyến tàu đó đã bị Hải quân Hoàng gia Anh chặn đường khi vừa đi qua Đảo Orkney, phía Bắc Scotland. Với lý do Aaron đi tàu lậu (không mua vé), thuyền trưởng tàu Oskar II đồng ý bàn giao Aaron cho tàu Hải quân Anh, và nhờ đó Aaron được đưa đến London. Toàn bộ màn kịch này được dàn dựng nhằm che mắt tướng Jemal Pasha, để ông ta không nghi ngờ Aaron làm việc cho tình báo Anh.

Vào những năm 1880, Zikhron Yaakov và các khu vực định cư lân cận được tài trợ bởi chi nhánh tại Pháp của hệ thống ngân hàng thuộc gia tộc Rothschild (tên Yaakov được đặt theo tên ông Jacob, bố của Nam tước Edmund de Rothschild). Cơ sở nghiên cứu của Aaron ở Athlit cũng được Rothschild tài trợ, đã góp công to lớn làm thay đổi hoàn toàn ngành nông nghiệp trong vùng.

Khi Chiến tranh Thế giới lần I lan đến Trung Đông vào năm 1914, Aaron khi đó là công dân đế quốc Ottoman, bị bắt đi lính trong quân đội Thổ Nhĩ Kỳ. Nhờ các mối quen biết, Aaron đã “chạy chọt” và được tướng Jemal Pasha cho miễn đi lính, trở về tiếp tục công việc tại trại nghiên cứu ở Athlit. Đúng thời điểm đó, một thảm họa thiên nhiên lại ập đến: Đại dịch châu chấu cắn phá sạch mùa màng của toàn xứ Palestine, đúng như lời tiên tri trong Kinh thánh. Và nó được gia tộc Aaronsohn xem như “điềm báo” trước cho sự suy vong của đế chế Ottoman. 

Quân đội Ottoman nổi tiếng tàn ác, đã lấy hết lương thực để nuôi quân, khiến cho dân chúng trong vùng đói kém, ai ai cũng oán hận. Hai anh em Aaron và Sarah xác định rằng tương lai của Palestine nằm ở việc hợp cùng với quân Đồng minh đánh bại quân Thổ Nhĩ Kỳ, và rằng họ cần phải sử dụng tình báo làm vũ khí để đạt mục tiêu đó.

Đầu tiên, mạng lưới tình báo của anh em nhà Aaronsohn được hình thành và chỉ huy bởi một người tên là Absalom Feinberg, 25 tuổi, sinh trưởng tại Palestine, gia đình có nhiều mối quan hệ với người Ảrập. Feiberg sử dụng giấy tờ giả để đi tàu thủy đến Port Said, Ai Cập và trình bày đề xuất kế hoạch tình báo với các chỉ huy quân đội Anh. Ông may mắn gặp được một sĩ quan tình báo giàu trí tưởng tượng là trung úy Leonard Woolley. Wooley nhận thấy các điệp viên NILI đang ở trong điều kiện độc nhất vô nhị để khai thác và cung cấp cho quân đội Anh “mỏ vàng” thông tin về quân đội Thổ Nhĩ Kỳ.

Leonard Woolley.
Leonard Woolley.

Hai tuần sau khi Woolley quay trở về Palestine, một tàu chiến Anh được điều đến vùng biển Địa Trung Hải ngoài khơi Palestine và phái một thuyền nhỏ cập vào đất liền để thu nhận mẻ thông tin tình báo đầu tiên. Cách thu thập tình báo này hoạt động tốt được một thời gian, nhưng đến khoảng cuối năm 1916, quân Thổ Nhĩ Kỳ phát hiện và đánh chìm một tàu chiến Anh, bắt sống Woolley. 

Kể từ đó, quân Thổ bắt đầu tuần tra vùng ven biển Palestine thường xuyên hơn khiến cho việc giao nhận thông tin không thể thực hiện được. Đến nước này, Feinberg quyết định phải tự mình mang thông tin đến Ai Cập giao cho quân đội Anh. Ông cải trang làm một người Ảrập di cư đi bằng đường bộ sang Ai Cập qua ngả biên giới Gaza. Tuy nhiên, trên đường đi, Feinberg không may gặp phải những người Ảrập di cư thật và bị họ chặn đường cướp của và giết chết.

Cái chết của Feinberg là một mất mát lớn cho mạng lưới tình báo NILI, và mạng lưới này ngay lập tức được tiếp quản bởi Sarah Aaronsohn. Với sắc đẹp tự nhiên như một hoa hậu, Sarah đã mau chóng thu hút sự quan tâm của nhiều người. Vào thời điểm Sarah tiếp quản mạng lưới NILI, hoạt động tình báo đã trở nên nguy hiểm hơn. Không chỉ là việc thu thập thông tin tình báo mà cả việc mang thông tin đó đến Ai Cập để giao cho quân đội Anh cũng ngày càng gặp nhiều trắc trở hơn. 

Người Anh khuyên Sarah sử dụng bồ câu để chuyển thông tin đã được mã hóa thật kỹ. Vào mùa xuân năm 1917, Sarah tìm đường sang Ai Cập để hội ngộ anh trai Aaron. Quân đội Anh đã có kế hoạch tấn công đế quốc Ottoman vào mùa thu, và mạng lưới NILI đã cung cấp những thông tin vô cùng quý giá về công tác phòng thủ của Thổ Nhĩ Kỳ. Tháng 6 cùng năm, Sarah quyết định quay trở về quê nhà và thực hiện đợt thu thập tình báo cuối cùng, còn Aaron thì trực tiếp báo cáo chi tiết các thông tin tình báo cho tướng Allenby. Aaron đã cố can ngăn em gái đừng trở về, vì ông hiểu mức độ nguy hiểm đang rất cao, nhưng Sarah không nghe.

Đối với quân đội Anh, mạng lưới tình báo NILI là một “báu vật”, là tai, mắt khắp mọi ngõ ngách ở vùng đất Palestine, trong lòng quân đội Ottoman, thu thập những thông tin chi tiết giúp quân đội Anh có cái nhìn rõ hơn, sâu hơn về cách thức quân đội Thổ Nhĩ Kỳ rút khỏi bán đảo Ảrập, cách họ chuẩn bị để phòng thủ Jerusalem, và xa hơn là Damascus ra sao.

Vào khoảng đầu tháng 9-1917, Tổng đốc Thổ Nhĩ Kỳ phụ trách vùng Caesarea nằm ở vùng duyên hải phía nam Athlit đang cho bồ câu ăn ở sân nhà thì phát hiện có một con chim bồ câu lạ sà vào, có lẽ nó chỉ dừng chân nghỉ trên đường đi ngang qua. Một chân con chim bị băng lại. Thế là ông bắt lấy nó và gỡ băng trên chân nó ra, nhặt lấy một mảnh giấy. 

Ông phát hiện trên mảnh giấy có viết một thông điệp đã được mã hóa mà ông không đọc được. Ông đoán con chim bay đến chắc chắn là quân đội Anh ở Ai Cập. Nhưng ai đã thả nó đi? Quân đội Thổ Nhĩ Kỳ không thể giải mã được, vì thế họ chuyển mẩu giấy cho chỉ huy quân Đức đang hợp tác bên cạnh tướng Jemal Pasha ở Damascus. Quân đội Đức giải mã thành công, và nơi xuất phát của chim đã lộ ra: Zikhron Yaakov.

Người Thổ Nhĩ Kỳ không xác định Sarah là chỉ huy của mạng lưới điệp viên NILI. Khi đến gặp Sarah, họ cố công tìm kiếm một điệp viên NILI khác tên là Joseph Lichansky. Nhưng Sarah quyết liệt từ chối, không nói ra. Nghi ngờ Sarah che giấu Lichansky, bọn lính Thổ bắt bố Sarah tra tấn để ép bà khai ra, nhưng Sarah quyết không nói. Đến lượt Sarah bị tra tấn dã man bằng nhục hình đau đớn nhất, nhưng bà cũng không khai. Rốt cuộc người Thổ Nhĩ Kỳ phải thả Sarah, cho bà về nhà nhưng giám sát chặt bằng hình thức giam lỏng.

Biết mình không thể tiếp tục hoạt động tình báo, cũng khó tránh khỏi những đợt tra tấn khảo cung sắp tới, Sarah dùng súng lục tự sát trong phòng ngủ. Bà để lại một bức thư kể lại việc mình và bố bị tra tấn dã man bởi quân Thổ Nhĩ Kỳ. Hai ngày sau khi Sarah chết, một bức điện tín của ông Chaim Weizmann gửi từ London đến để báo tin cho Sarah biết ông và các lãnh đạo Zionist khác đã tìm được nơi cư trú cho người Do Thái ở Palestine, dưới sự bảo hộ của chính phủ Anh.

Nguyên Khang (tổng hợp)

Các tin khác

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Khi trái bóng Trionda chính thức lăn trên sân vào ngày 11/6/2026, World Cup lớn nhất trong lịch sử, trải dài trên 16 thành phố thuộc 3 quốc gia Bắc Mỹ, với 48 đội tuyển và 104 trận đấu đã chính thức khai mạc. Với tư cách là quốc gia chủ nhà chính đăng cai tới 78 trận đấu, nước Mỹ đã chuẩn bị một kế hoạch an ninh lớn chưa từng có để bảo vệ an toàn cho sự kiện lần này.

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

Trong Chiến tranh lạnh, có những vũ khí không cần khai hỏa vẫn làm rung chuyển thế giới. U-2 là một trường hợp như vậy. Nó không mang bom, không tên lửa, không được thiết kế để giao chiến trên không. Thứ nguy hiểm nhất là máy ảnh, cảm biến và độ cao tưởng như ngoài tầm với của phòng không Liên Xô.

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Với tiêu đề Lights, Camera, Covert Action (Ánh sáng, máy quay và hoạt động bí mật) đăng trên tạp chí Lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) trực tuyến Nga, tác giả, Đại tá KGB Stanislav Lekarev đã kể về những năm tháng hoạt động bí mật của ông tại Vương quốc Anh dưới vai giám đốc điều hành hãng phim SovExportFilm những thập niên 70 thế kỷ trước.

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Trong thế kỷ XXI, những bí mật của chúng ta liên tục bị săn lùng bằng các phương tiện điện tử. Vì vậy, yêu cầu thận trọng trong phát ngôn và chia sẻ thông tin ngày càng trở nên cấp thiết. Trao đổi với phóng viên Báo “Luận chứng tuần”, Đại tá Sergey Matveev, chuyên gia an ninh mạng từng công tác tại Cơ quan An ninh Liên bang Nga, đã chia sẻ một số ý kiến về những nguy cơ mà thời đại kỹ thuật số đang đặt ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Lỗ hổng của nước Anh

Lỗ hổng của nước Anh

Hai lá đơn từ chức được gửi đi gần như đồng thời của hai bộ trưởng đứng đầu lực lượng quân đội Anh hôm 11/6/2026 vừa qua không chỉ bộc lộ những bất đồng trong chính phủ. Nghiêm trọng hơn, nó đã phơi bày một lỗ hổng an ninh nghiêm trọng đe dọa vị thế của Anh trên bản đồ thế giới.

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Ngày 15/1/1976, bồi thẩm đoàn tại Tòa án Liên bang khu vực Bắc California đã kết án tù chung thân đối với Sara Moore. Bản án có thể được xem là quá nghiêm khắc, bởi vì Moore không giết ai, mà chỉ thực hiện một vụ ám sát bất thành. Tuy nhiên, mục tiêu của bà ta là Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Ngày 10/2/1942, tàu ngầm Mỹ US Trout (SS-202) đã đánh chìm hai tàu vận tải của Nhật Bản. Thoạt nhìn, điều này dường như chẳng có gì đặc biệt, bởi trong suốt cuộc chiến ở Thái Bình Dương, có hàng trăm cuộc tấn công tương tự. Tuy nhiên, cuộc tấn công lần này được thực hiện bởi một tàu ngầm đang chở trên khoang một kho báu trị giá hàng triệu USD.

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

Từ Công đồng Trent đến vùng biển Lepanto, tình báo Ottoman thế kỷ XVI từng len qua những lối mà châu Âu ít nghi ngờ nhất: áo giáo sĩ, thương nhân, hải tặc, người cải đạo, tù binh được thả. Nhưng một đế chế có thể thu được rất nhiều tin tức mà vẫn thua, nếu thông tin khi về đến trung tâm quyền lực bị che khuất bởi nỗi sợ nói thật.

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Vụ bắt giữ một nhân sự trong lĩnh vực quốc phòng tại Ba Lan công bố hôm 30/5/2026 đang đặt ra những câu hỏi về mức độ an toàn của thông tin chiến lược, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng quân sự ngày càng trở nên nhạy cảm.

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

Giữa miền Tây nước Đức, một cửa hàng kem Ý trở thành tâm điểm của chiến dịch truy quét mafia lớn nhất châu Âu. Không phải vì những tiếng súng hay một vụ giết người công khai, mà vì một thứ tinh vi hơn nhiều: dòng tiền mua bán ma túy từ Nam Mỹ được hợp thức hóa qua những doanh nghiệp bề ngoài rất bình thường.

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

Một cuộc kiểm thử đối với chatbot AI đã làm dấy lên những lo ngại mới về nguy cơ công nghệ này có thể bị lợi dụng để tiếp cận và phổ biến các tri thức liên quan đến vũ khí sinh học.