Lẻ loi chim nhạn...!!!

Lời bài hát Quan họ “Tương phùng tương ngộ” trữ tình da diết đi vào lòng người với giai điệu xao xuyến luyến láy: “Bên i mạn oanh í ơ bên i mạn oanh/ Ngồi tựa giăng thanh thương nhớ ơ sầu oanh, thương nhớ ơ sầu oanh/ Lẻ loi chim nhạn i hỡi bạn ơi tình ơi là/ Tôi biết đến bao giờ họp mặt là đôi sánh đôi…”.

Ca dao miền Quan họ cũng có bản tương tự: “Lẻ loi chim nhạn sầu oanh/Để em thơ thẩn năm canh đợi chờ/ Thương ai biết đến bao giờ/ Bao giờ gặp mặt bao giờ sánh đôi…”. Rất khó phân định văn bản nào có trước, chỉ biết qua hình ảnh chim nhạn cả hai đều nói tinh tế về các cung bậc trạng thái nhớ/sầu... Chim nhạn trở thành biểu tượng cho tình yêu chung thủy, bền chặt, sắt son.

image001.jpg -0
Chim nhạn.

Thuộc giống chim họ Vịt (Anatidae), chim nhạn sắp đến mùa lạnh thì họp đàn bay xuống phương nam, kiếm ăn miền ven biển, chốn ven sông, nơi các hồ đầm. Trong văn hóa châu Á (Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Đài Loan…) đều nói chim nhạn là loài ngỗng thiên di, thường gọi là ngỗng trời (wild goose).

Người Trung Quốc xưa gọi là “hồng nhạn” có điển tích từ thời Kim Chương Tông (1205). Chuyện kể học trò Nguyên Hảo Vấn, 16 tuổi, tới Tịnh Châu dự thi, đi qua sông Phần, thấy một thợ săn cầm cặp chim nhạn đã chết liền hỏi nguyên cớ. Người thợ kể vừa dùng lưới bắt được một con chim nhạn. Nó đã bị chết. Lúc sau một con nhạn khác bay tới thấy thế nhất định không chịu rời đi. Cuối cùng, nó bay lên cao rồi lao cắm đầu xuống đất... Cảm động, Hảo Vấn bỏ tiền mua rồi chôn đôi chim cạnh bờ sông Phần. Người dân hưởng ứng bằng cách đắp đá cuội thành mộ, gọi là “Gò Nhạn”. Những sĩ tử đi qua đều có thơ tỏ lòng thương tiếc. Từ đó có tục tế chim nhạn, trước khi đón dâu, nhà trai mang đến nhà gái một con chim nhạn, với ý chàng rể mãi mãi không bao giờ thay đổi, như chim nhạn, khi đã chọn bạn đời sẽ mãi bên nhau...

Không chỉ gắn bó vợ chồng, chim nhạn luôn bay theo bầy. Thế nên một con bị lạc dễ gợi ra ở con người về sự cô độc đầy thương cảm. Đỗ Phú có bài thơ “Cô nhạn - Hậu phi nhạn” nổi tiếng: “Cô nhạn bất ẩm trác/ Phi minh thanh niệm quần/ Thùy liên nhất phiến ảnh/ Tương thất vạn trùng vân/ Vọng tận tự do hiện/ Ai đa như cánh văn…” (Nhạn lạc bầy không ăn uống/ Vừa bay vừa kêu gọi họp đàn/ Có ai nhìn mà chẳng thương/ Một con nhạn chìm dần vào vạn lớp mây/ Nhìn mãi mà như vẫn thấy bóng nó/ Tiếng kêu sầu thảm như vẫn vẳng bên tai…).

Trong văn hóa Trung Quốc, chim nhạn trở thành biểu tượng cho sự tín nghĩa, dựa vào đặc trưng (như trong sách “Nghi lễ chính nghĩa” của Hồ Bồi Nhung thời nhà Thanh), đại để chim nhạn di trú giữa hai miền Nam Bắc, tuần hoàn theo đạo âm dương, chưa bao giờ thất tín, thất tiết thể hiện sự chung thủy nam nữ, rộng hơn là cho chữ “tín” của đạo quân tử. Dựa vào tập quán khi bay luôn tuân theo sự chỉ dẫn của con đầu đàn, người xưa lại ví nhạn với đời sống gia đình, phải có tôn ti trật tự. Khi di cư, bay đi từ nơi nào sẽ bay về nơi đó, chim lại được người đời nâng thành biểu trưng cho tấm lòng biết nhớ nguồn cội.

Nhà thơ Vương Cung (thời Minh) có bài “Xuân nhạn” nói về ý này: “Xuân phong nhất dạ đáo Hành Dương/ Sở thủy Yên sơn vạn lý trường/ Mạc quái xuân lai tiện quy khứ/ Giang Nam tuy hảo thị tha hương” (Hành Dương một tối gió xuân/ Nước Sở non Yên vạn dặm dài/ Chớ lạ xuân về bay mất bóng/ Giang Nam dù đẹp vẫn quê người”. Từ Hành Dương vượt “nước Sở non Yên” đến cư trú Giang Nam. Đất mới dù đẹp vẫn là “đất khách quê người”!

Nhạn còn là loại chim đưa thư. Trong Kinh kịch Trung Quốc có hí khúc “Hồng nhạn sao thư” kể, do chiến tranh Tiết Nhân Quý phải xa vợ Vương Bảo Xuyến đằng đẵng đã 18 năm. Ngày nọ, Vương Bảo Xuyến đang cắt cỏ ngoài đồng bỗng nghe thấy tiếng kêu của hồng nhạn. Bảo Xuyến chợt nghĩ nhờ chim chuyển cho chồng lá thư. Giữa đồng làm gì có giấy mực, nàng xé miếng vải ở quần, cắn ngón tay, hòa máu tươi và nước mắt thành mực viết những con chữ khắc khoải nỗi nhớ, đau đớn đợi chờ… Lại có tích Tô Vũ đời Hán bị đày sang Hung Nô, phải đi chăn dê. Tô Vũ nghĩ cách buộc thư vào chân chim nhạn để nhắn tin về cho vua Hán… Từ đó có chữ nhạn tín.

Nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, trong bài “Xúc cảnh” cũng dùng điển tích này để nói về nỗi mong ngóng tin tức sự đổi thay của đất nước: “Mây giăng ải bắc trông tin nhạn/ Ngày xế non nam bặt tiếng hồng”. Theo quy luật tiếp biến, những ánh hồi quang của những điển tích ấy soi bóng vào thơ cổ điển Việt Nam: “Ngày sáu khắc tin mong nhạn vắng/ Đêm năm canh tiếng lắng chuông rền” (Cung oán ngâm khúc); “Thấy nhạn luống tưởng thư phong/ Nghe hơi sương sắm áo bông sẵn sàng” (Chinh phụ ngâm); “Buồn trông phong cảnh quê người/ Đầu cành quyên nhặt, cuối trời nhạn thưa” (Truyện Kiều)…

image003.jpg -0
“Bầy nhạn” - tranh Đài Loan (Trung Quốc).

Trong thơ cổ, chim nhạn và chim én khác nhau. “Truyện Kiều” có câu: “Phận bồ từ vẹn chữ tòng/ Đổi thay nhạn yến đã hòng đầy niên”. Chữ “yến” chỉ con chim én. Theo “Từ điển Truyện Kiều” của Đào Duy Anh, “nhạn yến” chỉ sự thay đổi thời tiết từ mùa này sang mùa khác (cũng là nhịp đi của thời gian). Chim én trong “Truyện Kiều” biểu trưng cho mùa xuân: “Ngày xuân con én đưa thoi…”.

Trong “Bích Câu kỳ ngộ” có sự cảm khái về không gian chia ly: “Những là én bắc nhạn nam/ Cánh hoa mặt nước biết làm sao đây”. Ca dao càng rõ: “Nhạn về biển bắc nhạn ơi/ Bao thuở nhạn hồi để én đợi trông”. Rồi “Nhạn nam én bắc lạc bầy/ Biết bao giờ đặng duyên vầy ái ân”. Sự phân biệt này không chỉ căn cứ vào hiện tượng di cư, còn là tập quán sinh hoạt: nhạn bắt tôm cá dưới nước; én bắt muỗi và côn trùng nhỏ trên không.

Cụ Tản Đà kỹ lưỡng và tinh tế khi viết: “Nhạn về én lại bay đi/ Đêm thì vượn hót, ngày thì ve ngâm” (Cảm thu, tiễn thu). Chim én miệng rộng, cằm bạnh, trong tiếng Hán có thành ngữ “yến hạm hổ tu”, chuyển sang tiếng Việt là “râu hùm hàm én” tả khuôn mặt võ tướng oai vệ, uy phong. Chim én gần gũi với đời sống người Việt: “Én bay thấp, mưa ngập bờ ao/ Én bay cao, mưa rào lại tạnh” (Ca dao). Có thể là để bắt chuồn chuồn, mà chuồn chuồn, thì “bay thấp thì mưa/ Bay cao thì nắng…).

Đi vào văn chương, chim én được gọi là yến, gắn liền với anh (chim vàng anh) để chỉ tuổi trẻ “trai gái”, như trong “Truyện Kiều”: “Gần xa nô nức yến anh”; “Xôn xao ngoài cửa hiếm gì yến anh”; “Quá chiều nên đã chán chường yến anh”. Cụ Nguyễn Du tả: “Xập xè én liệng lầu không”, chỉ hai chữ “xập xè” vừa tượng hình (cánh én mở ra khép lại) vừa tượng thanh vẽ ra cả một không gian vắng vẻ, vắng đến mức nghe được cả âm thanh con én bay…!

Thế mà, trong một vài bộ từ điển và một số bài viết gần đây vẫn coi chim én và chim nhạn là một, với lối viết đầy khẳng quyết: “còn gọi là”!?

Lại có sự nhầm lẫn “nhạn” và “nhàn” ở trường hợp phát âm trong “Dạ cổ hoài lang” nổi tiếng của soạn giả Cao Văn Lầu: “Từ là từ phu tướng/ Báu kiếm sắc phán lên đàng/ Vào ra luống trông tin nhàn/ Năm canh mơ màng…/ Là nguyện cho chàng/ Hai chữ an - bình an/ Trở lại gia đàng/ Cho én nhạn hiệp đôi”. Chiểu theo cấu trúc biểu nghĩa, biểu vật như đã nói ở trên thì chỉ chim nhạn mới phù hợp với trường ngữ nghĩa nói về tâm trạng, hoàn cảnh người vợ nhớ chồng (hoài lang). Để phù hợp với hệ thống thanh bằng (đàng/ nhàn/ màng/ chàng/ an/ đàng/ đôi) của cả đoạn diễn tả cái không gian xa xăm, miên viễn mà người chồng đang “lên đàng”, thì hát phải “thả” tin nhàn. Điều này cũng được Giáo sư Trần Văn Khê giải thích, theo quy luật hài thanh, nhả âm trong vọng cổ, nếu hát “tin nhạn” không ổn nên “đọc là nhàn…”. Như vậy, vẫn là chữ “nhạn” nhưng khi hát thì chệch âm thành “nhàn”, chứ không phải như một vài cách hiểu khẳng định có “giống chim nhàn” (!?).

Ngày nay, theo khoa điểu học thì loài nhạn (chim nhạn bụng trắng châu Âu - tên khoa học là Hirundo rustica rustica), ngoài các biểu tượng gốc, còn là biểu tượng cho bản lĩnh vượt khó. Mỗi năm, chúng di cư khoảng 9.700km từ bắc châu Âu tới nam châu Phi, rồi ngược lại. Nặng khoảng 17 - 20g, dài khoảng 15cm, chim có khả năng vượt bão cát với sức gió 64km/h. Vào mùa xuân, chúng di cư về phương bắc để ghép đôi và nuôi con, rồi quay lại phương nam trước mùa đông. Quá trình di cư mạo hiểm này khiến tỷ lệ tử vong rất cao, nhất là khi bay qua sa mạc Sahara. Để vượt qua sa mạc chết chóc này, chim bay mất 5 ngày trong khi không được uống giọt nước nào. Đã vậy, tới nơi có nước, chim còn phải bay thêm 3.200km nữa mới gặp được bạn tình... Quả là tình yêu vẫn mạnh hơn rất nhiều cái chết và sự khó khăn!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).