Làng tạc tượng Bảo Hà

Nào có ngờ, cái thôn có nghề thủ công điêu khắc truyền thống nức tiếng khắp trong Nam ngoài Bắc từ hàng mấy trăm năm nay ấy lại chỉ cách ngôi làng mà tôi được mẹ sinh ra chỉ vài thôi đường và con sông Hóa bên lở bên bồi mà thôi. Làng có tên Bảo Hà. Một thời làng có tên Linh Động. Chốn ấy thuộc huyện Vĩnh Bảo, quê hương của món thuốc lào nổi tiếng xưa nay, thuộc thành phố Hải Phòng.

Trong dân gian, có người tỏ ra phát ghen với dân làng Bảo Hà vì cho rằng, họ may mắn được trời ban tặng cho cái tài “thổi hồn” vào những khúc gỗ mít, gỗ xoan, gỗ dổi,…để cho ra vàng ròng, đó là những bức tượng Phật có hồn có vía, độc nhất vô nhị khắp ngoài Bắc trong Nam từ bao đời nay. Còn từ điển Wikipedia lại trân trọng: “Làng Bảo Hà, chính là địa chỉ của cái nôi tạc tượng nước Việt mình”.

nghệ nhân làng tượng bảo hà thổi hồn vào gỗ để cho ra đời những tác phẩm độc đáo.jpg -0
Nghệ nhân làng tượng Bảo Hà thổi hồn vào gỗ để cho ra đời những tác phẩm độc đáo.

Chuyện xưa tích cũ có kể lại về vị tổ sư nghề tạc tượng và sơn mài ở làng Bảo Hà với những nét đại cương cơ bản thế này. Đó là vào thế kỷ thứ XV, khi nhà Minh đô hộ nước Việt (1407 - 1427) đã tổ chức bắt bớ hàng loạt những thanh niên trai tráng với mục đích đưa sang bên kia biên giới phục vụ cho công cuộc xây dựng các lăng tẩm, đền đài,… của họ. Trong số những trai tráng bị bắt nói trên có chàng thanh niên Nguyễn Công Huệ, người con của làng Bảo Hà.

Trong hơn mười năm trời đằng đẵng đổ mồ hôi sôi nước mắt và thậm chí đôi khi đổ cả máu để phục dịch tại xứ người, Nguyễn Công Huệ đã học hỏi được một số nghề để phục vụ cho kế mưu sinh lâu dài sau này của bản thân. Trong số vốn liếng giắt lưng vô cùng quý giá ấy của Nguyễn Công Huệ đương nhiên có cả kỹ thuật tạc tượng.

Sau này, khi nước nhà thoát khỏi ách đô hộ, được hồi hương, Nguyễn Công Huệ đã chia sẻ truyền dẫn nghề tạc tượng cho người thân trong gia đình, dòng tộc và cả làng Bảo Hà. Kể từ đó, ngoài việc đồng áng, người làng Bảo Hà nhờ Nguyên Công Huệ có thêm nghề mưu sinh mới: Tạc tượng. Chẳng mấy chốc làng Bảo Hà nổi tiếng không chỉ trong phạm vi vùng châu thổ sông Hồng với nghề tạc tượng Phật. Và bây giờ, tuổi đời của làng nghề tạc tượng  nổi tiếng  ấy đã  gần 600 năm.

Đến khi Nguyễn Công Huệ rũ áo bụi trần rời cõi tạm vân du về với thế giới bên kia, để tưởng nhớ người đã mang lại áo cơm cho mình, dân làng Bảo Hà tôn ông là tổ sư nghề. Đồng thời, bà con dân làng còn một lòng một dạ thành kính lập miếu thờ Nguyễn Công Huệ bên cạnh đức thánh thần hoàng làng.

Miếu ấy ngày nay vẫn tồn tại và quanh năm chả khi nào phải trong cảnh hương lạnh khói tàn cả. Miếu có tên gọi: Miếu Cả. Và thấy bảo, bức tượng chân dung Nguyễn Công Huệ thờ cạnh bài vị thần hoàng làng trong ngôi miếu cả chính là do vị tổ sư ngề tạc tượng của làng Bảo Hà tự tay mình tạc nên.

Người ta bảo, từ thuở mới lập làng lập ấp, dân Bảo Hà đã có truyền thống thông minh, nhạy bén và tài hoa hơn người. Họ là những người có phẩm chất nghệ sĩ ngay từ khi chào đời. Bởi thế cho nên, sau khi được vị tổ sư Nguyễn Công Huệ truyền cho những bí quyết kỹ năng tạc tượng và sơn mài, nghề ấy lập tức từng bước phát triển.

Chả thế mà ngay thời kỳ phong kiến hà khắc với những lề thói phức tạp, nhưng nghề tạc tượng Phật ở làng Bảo Hà vẫn cứ thăng hoa chưa từng thấy. Ngày đó, ở xứ Đông, nói đến nghề tạc tượng, nức tiếng trong thiên hạ chỉ duy nhất địa chỉ Bảo Hà có một không hai. Nghe bảo, cũng là cái thời ấy làng Bảo Hà xuất hiện hàng loạt những bậc kỳ tài của nghề điêu khắc tượng. Và “một bộ phận không nhỏ” những bậc kỳ tài ấy được triều đình trọng dụng, đã từng tạc cả ngai vàng cho đức vua.

“Thày nào trò ấy!”. Tiếp thu, duy trì và phát huy những tinh hoa mà ông tổ Nguyễn Công Huệ để lại, với truyền thống giữ lửa làng nghề, người truyền người, nhà truyền nhà, các lứa học trò của ngài cũng chẳng phụ công thầy. Họ là những bậc kỳ tài hiếm có. Và được các vương triều phong kiến phong tước, phong hầu. Đó là những bậc kỳ tài hiếm vang bóng lừng lẫy như, Tô Phú Vượng; như Hoàng Đình Úc… đã làm rạng danh tổ sư và truyền thống làng nghề.

Người Bảo Hà không chỉ thả hồn sáng tạo với những bức tượng Phật mang hồn cốt thuần Việt ngay tại quê hương bản quán của mình mà ngày đó, họ còn tự tin ngạo nghễ bước ra khỏi lũy tre làng, ra khỏi vùng đất xứ Đông để tới những đất Ninh Giang của tỉnh Hải Dương; với xứ sở thuốc lào Tiên Lãng. Rồi thì làng Nguyễn thuộc Đông Hưng, phủ Thái Bình… để thể hiện tài năng của mình qua hàng loạt các bức tượng Phật nổi tiếng tại những ngôi chùa nổi tiếng. 

Lão nghệ nhân Hoàng Đình Phú chia sẻ: Thoạt nhìn tưởng việc tạc tượng Phật “dễ ăn” song thực chất, để tạo nên một pho tượng cho có hồn có cốt và gần gũi với đời sống thật chả hề đơn gian tý nào sất. Để có bột mà gột nên hồ, với mỗi người nghệ nhân tạc tượng làng Bảo Hà, khâu cốt yếu đầu tiên là phải có chất liệu tốt.

chân dung tự tạc của vị sư tổ nghề nguyễn công huệ.jpg -0
Chân dung tự tạc của vị sư tổ nghề Nguyễn Công Huệ.

Trong đời sống không thiếu gì những loại gỗ có thể sử dụng cho việc tạc tượng, như: dổi, xoan, sung, v. v…và vân vân. Ấy thế nhưng, người Bảo Hà lại chỉ đặc biệt trân trọng loại gỗ mít mà thôi. Lý do khiến người ta yêu thích thứ gỗ ấy là bởi, nó có sự ưu việt hơn tất thảy các loại gỗ đó. “Cái anh” gỗ mít ấy vừa mềm, vừa chống được mối mọt, ít bị tác động của nước, lại dễ kiếm. Và đặc biệt hơn, thứ gỗ mít không quá đắt như những loại gỗ quý khác, ấy vậy!

Có được món gỗ “như ý” rồi, bấy giờ người nghệ nhân mới tính toán cân nhắc mục đích của từng phần nguyên liệu, trước khi cắt rời cây gỗ ra. Tiếp theo, từng phần của bức tượng được cắt gọt và sử dụng các loại đục để chạm khắc tạo nên hình hài tác phẩm. Khi bức tượng đã có hình hài “chuẩn không cần chỉnh”, người ta tiến hành thực hiện công đoạn sơn. Mà không phải chỉ sơn một lớp là “xong liền” đâu đấy nhé. Nói vậy có nghĩa là, phải sơn phủ lên bức tượng nhiều lớp cho tới khi thật sự chuẩn chỉ mới thôi.

“Khi các nước sơn trên bức tượng đã đạt tiêu chuẩn kỹ thuật bấy giờ sẽ tới công đoạn thếp bạc - Nghệ nhân Hoàng Đình Phú thổ lộ - Thếp bạc cho tượng rồi thì tới khâu lọng sơn. Và cùng với đó là vẽ mắt mũi cùng với vẽ râu. Cuối cùng là sơn màu trang phục cho bức tượng. Với một bức tượng đạt yêu cầu phải đảm bảo có cái nhìn tổng thể thật sự có hồn có vía. Và một thần thái riêng của mỗi một tác phẩm. Có vậy mới “ăn tiền!””.

Gặp khi mặn chuyển, anh Tô Văn Cường, một trong những nghệ nhân trẻ đầy tiềm năng của làng Bảo Hà mở lòng mình rằng: Do nghề tạc tượng của làng đã “có số có má” với một “thương hiệu” thật sự ổn định, bền vững từ mấy trăm năm qua thành ra, dẫu là thời buổi kinh tế thị trường, nhưng quanh năm những người thợ chuyên nghiệp ở đây không bao giờ ít việc cả.

Song không vì thế mà các nghệ nhân của làng nghề truyền thống Bảo Hà vì chạy theo “số nhiều” của đồng tiền sinh lời mà sao nhãng hay thậm chí bỏ quên khâu chất lượng sản phẩm. Dẫu làng nghề không hề có bất cứ một quy ước thành văn nào về cái gọi là chất lượng sản phẩm tượng điêu khắc đạt tiêu chuẩn, nhưng tất cả các nghệ nhân của Bảo Hà đều ngầm mặc định với nhau rằng: Làm ra những bức tượng tốt mới là cái cách thể hiện tấm lòng báo hiếu của mình với tổ sư nghề cùng các bậc kỳ tài tiền bối. Và chỉ như thế mới bảo tồn, phát triển “thương hiệu” làng nghề một cách căn cơ.

Anh Tô Văn Cường bảo: Chính vì ý thức được điều thiêng liêng đó mà các thế hệ nghệ nhân xưa cũng như nay của làng Bảo Hà không bao giờ có tâm lý “ăn xổi ở thì” và “tham vàng bỏ ngãi” mà sinh ra thói tật vội vã qua quýt với mỗi một tác phẩm tượng mà bản thôn kỳ công đổ mồ hôi sôi nước mắt sáng tạo ra, ngay cả những lúc “đơn đặt hàng đổ về không đếm xuể” hoặc gặp phải sự thúc ép của khách hàng, ấy vậy!

“Để cho những tác phẩm điêu khắc mang đậm giá trị văn hóa thuần Việt đạt tiêu chuẩn “thương hiệu” Bảo Hà, thông thường cánh thợ chúng tôi phải đầu tư gần như triệt để thời gian và trí lực vào đó ít nhất là từ hai tuần lễ cho tới hai tháng trời tùy thuộc vào kích thước cũng như nội dung của bức tượng đấy bác ạ!” - Anh Tô Văn Cường bộc bạch.

Tiếp thêm trà nóng vào cốc của khách, người nghệ nhân ấy vui vẻ tiếp tục mạch chuyện: “Đấy là chưa kể tới trình phác thảo phần thô một bức tượng lúc ban đầu đâu. Bác không biết đấy thôi, gì chứ chỉ riêng khoản đục đẽo thôi cũng đã ngốn của người thợ mất 10 ngày rồi. Đấy là chưa tính tới phải thêm chừng hơn một tuần lễ nữa cho phần sơ vẽ mới có thể cho ra đời một tác phẩm tượng “đúng chất” Bảo Hà!”. Nghe những điều tâm sự của một trong những hậu duệ thời 4. 0 của vị tổ sư nghề tạc tượng Bảo Hà, ngài Nguyễn Công Huệ, tôi chợt tỉnh thức vỡ lẽ ra điều giản dị này: muốn di sản văn hóa của cha ông tồn tại, phát triển và đồng thời, để sống được với di sản đó, điều cốt lõi trước tiên, những người có trách nhiệm gìn giữ nó phải có thái độ thật sự nghiêm túc trong quá trình lao động sáng tạo. Vậy chăng?!

Vũ Thái Thịnh

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).