Lãng đãng bán nguyệt hồ, tản mạn chuyện văn chương

Có rất ít tài liệu để lại cho chúng ta hôm nay về sự hình thành và quá trình biến đổi của hồ Bán Nguyệt, một địa danh nổi tiếng ở Phố Hiến - Hưng Yên. Nhìn góc độ thông thường, hồ Bán Nguyệt là một hồ nước sâu và rộng như bao hồ khác giữa lòng phố. Vậy mà từ bao đời nay, người ta yêu mến nó, tự hào về nó, để rồi từ tình yêu ấy, hồ trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho thi ca và nghệ thuật.

Yêu nó, người ta đã thêu dệt biết bao giai thoại, huyền thoại, thậm chí còn tranh luận về nó.

Dòng chảy sông Hồng tạo nên hồ Bán Nguyệt, dân gian coi như một huyệt đạo linh thiêng.

Chuyện kể rằng, vùng nước sâu nơi đây vốn là vũng đọng của dòng chảy sông Hồng. Thời nhà Lê có dùng làm trại thủy bình, nghe nói cắm sào chắn xung quanh, thời gian phù sa bồi đắp ngoài hàng rào theo hình cung, để lại một hồ nước ngẫu nhiên có hình vầng trăng khuyết, cùng với việc đắp đê sông Hồng tạo thành hồ Bán Nguyệt ngày nay.

Hồ này nước rất sâu, chưa bao giờ tát cạn được. Dân gian truyền rằng hồ có mạch ngầm thông với sông Hồng, lại có mạch thông với khu đền Mẫu. Qua thời gian, nhiều hoạt động dưới mặt nước trên bờ hồ, người Phố Hiến vẫn coi là điểm lễ hội, chung vui. Nơi trong phố, ngoài phường gặp nhau, nơi những đôi lứa xa nhau chọn làm điểm hẹn tâm tình, nên duyên đôi lứa.

Thời ấy, dân cư thưa thớt, xung quanh vắng vẻ, tầm nhìn thoáng đãng; lại chưa có điện như bây giờ, những đêm có trăng trên trời, ta thấy trăng dưới nước. Đêm thu vắng, sương bàng bạc, Hồ Nguyệt bâng khuâng, ngỡ như Hằng Nga giáng trần vậy.

1b7b6ecfc66c75322c7d.jpg -0
Hồ Bán Nguyệt yên bình nằm giữa Phố Hiến Hưng Yên.

Phố Hiến xưa là thủ phủ của trấn Sơn Nam, thời đó quanh hồ đã có một vài công trình nhưng không cao lắm. Bờ phía đông có hai ngôi đền thiêng - đền Trần và đền Mẫu, bên cạnh là giếng cổ, dân gian gọi là giếng Mắt Rồng. Bờ tây, cây cối rậm rạp, lau sậy đìu hiu, sương bay ngàn liễu, đêm khuya sáng sớm còn nghe tiếng mõ chùa Nguyệt, tiếng ngư dân thả lưới, giăng câu đánh cá…

Khi thực dân Pháp vào, họ chọn nơi đây là trung tâm hành chính, xây dựng phố xá, dinh thự. Phía bắc là khu hành chính với lối kiến trúc kiểu Pháp, gồm Tòa Sứ, Dinh Tuần Phủ, Thương Tá, Chánh Án nằm xung quanh. Hồ Bán Nguyệt là nơi nên thơ nhất của tỉnh lỵ, đẹp không thua Hồ Gươm là mấy. Phố Khách - đoạn từ bưu điện đến đầu hồ là phố thương mại sầm uất, do người Tàu nắm giữ (theo Hồi ký Phạm Duy). Phía đông có dinh quan Đốc bộ, còn khu tiếp theo (Điện Biên III bây giờ) chỉ là bãi hoang đất trũng và khu nghĩa địa.

Phía nam giáp đê có ngôi miếu cổ khá đẹp. Nghe nói sau này được trưng dụng làm kho súng đạn, không biết lý do gì, một hôm nghe tiếng nổ lớn, miếu bị mất từ đó, những công trình mà Phạm Duy có nhắc đến giờ không thấy còn nữa.

Ông Lê Hoan là Tổng đốc Hà Nội kiêm Tổng đốc Hưng Yên. Yêu văn chương nghệ thuật, vào thượng tuần tháng 3 năm Ất Tỵ (1905), ông cho lập Hội Tao Đàn Hưng Yên và dựng trên đảo Bình Thi lầu cho các thi nhân Phố Hiến, đôi lúc mời các thi hữu gần xa đến bình thơ trên đảo này. Hình thù kiểu dáng của Bình Thi Lầu xưa không ai còn nhớ, nhưng thiết nghĩ nơi sinh hoạt của các ông đồ nho và thi nhân xưa chắc cũng đơn sơ, mang cốt cách văn nhân, một chốn tao nhã khí chất, lưu giữ văn phong chữ nghĩa. Chữ  “Lầu” ở đây chắc không phải để chỉ nhà xây cao tầng như ta gọi bây giờ.

Hồ Bán Nguyệt là cảm xúc của thi ca và nghệ thuật, trước hết là vì chính nó, vì nó là một phần lắng đọng ngẫu nhiên của không gian văn hóa Phố Hiến. Các tác phẩm văn học nghệ thuật, những giai thoại từ các tao nhân mặc khách xưa giúp ta tưởng tượng ra diện mạo của hồ qua mấy trăm năm biến thiên. Cụ Lê Cù với phú “Bán Nguyệt Hồ” từng viết:

"Bóng nguyệt chênh chênh, gương hồ vằng vặc, sương đọng trại quân, mây chen nhà phố... Khách giai nhân giặt gấm ngỡ Hằng Nga.

Tiếng Hồ trong bốn bể đều hay, dấu Nguyệt dưới ngàn thu vẫn tỏ.

Kìa Hồ là cảnh hữu tình, khi soi xuống có Hồ thì có Nguyệt, mà Nguyệt vốn là kho vô tận, ngẩng trông lên còn Nguyệt ấy còn Hồ. Trải mấy nắng mưa thay đổi, vẫn còn Hồ Nguyệt xưa nay....

Giầu kho phong nguyệt, Vui thú yên hà, lấy Nguyệt Hồ làm sinh nhai".

Trong số những bài viết về cảnh đẹp Phố Hiến, số bài vịnh Nguyệt Hồ khá nhiều. Nguyệt Hồ trong văn chương không chỉ là bức tranh với những nét vẽ tinh tế mà còn ẩn chứa tình yêu quê hương đất nước. Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh - vị quan án sát hay chữ, văn nhân nổi danh một thời với các câu đối, châm thư, đại tự… về Phố Hiến, đồng thời đã để lại những vần thơ tinh tế trong các tác phẩm như bán Nguyệt Hồ quang, Nguyệt Hồ phú, Nguyệt Hồ thu dạ:

Nước hắt bóng trăng, trăng in nước
Trời xanh thăm thẳm mãi muôn đời

Hay:

Muôn cây phô màu xanh, khói chiều lan tỏa
Khắp hồ bóng trăng suông tiếng ve rền rĩ
Cung loan ôm ngang lấy bờ đông tây
Gương quý soi trong khắp trời trên dưới
Đài văn mặc khách thường hứng khởi đề bút
Lầu thơ buổi chiều trông ngỡ là chốn tiên…

Một nhà thơ khác thuộc Hội Tao Đàn cũng từng viết:

Bên song Bán Nguyệt, Nguyệt Hồ gần/ Cảnh hồ song cửa tỏ mờ phân/ Thơ bút phong lưu thua tiên sáo/ Giỡn cười mây nước kẻ buông cần…

Nơi đây từng chứng kiến một sự kiện hiếm có trong lịch sử văn học Việt Nam - cuộc thi thơ vịnh "Truyện Kiều" năm 1905, do Tổng đốc Lê Hoan khởi xướng, Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến làm chủ khảo, và Chu Mạnh Trinh đoạt giải Nhất.

Nói chung thơ văn Phố Hiến còn lưu truyền đến nay phần lớn gắn với Hội Tao Đàn Hưng Yên, thu hút nhiều danh sĩ trong và ngoài tỉnh, trong đó có cả cha con cụ Nguyễn Khuyến, tạo nên một không khí văn chương sôi động một thời. Thế rồi, sau khi Chu Mạnh Trinh mất (1905), Lê Hoan rời chức Tổng đốc Hưng Yên (1907), phong trào ấy như mất ngọn cờ. Kể từ đó, không còn nhiều tư liệu về Hội Tao Đàn hay Bình Thi Lầu được lưu lại.

Năm 2014, chúng tôi tổ chức sưu tầm lại thơ văn Phố Hiến, nhưng số lượng còn lại rất khiêm tốn, chọn lọc đưa vào một phần phụ lục (từ trang 751 đến 785) trong bộ sách Phố Hiến. May mắn thay, gần đây xuất hiện một hiện vật quý: bức tranh thêu Nguyệt Hồ thắng cảnh từ thời ông Lê Hoan làm Tổng đốc được nhà sưu tầm cổ vật Vũ Sĩ Lợi của Hưng Yên mua về từ cuộc bán đấu giá ở Paris, cho chúng ta hiểu thêm về hồ Bán Nguyệt, Phố Hiến một thời.

Như vậy, hồ Bán Nguyệt từ lâu đã gắn bó với thi ca và nghệ thuật. Nơi đây đã sinh ra những tác phẩm để đời và lan tỏa rộng khắp. Thời kì 1968 - 1997, khi Hưng Yên nhập với tỉnh Hải Dương, văn học viết về Phố Hiến và Nguyệt Hồ khá thưa vắng, hoặc có thể chúng tôi chưa sưu tầm được. Giai đoạn này kể đến tác phẩm “Huyền thoại Nguyệt Hồ” (Nguyễn Khắc Hào,1988) được in trong Tuyển tập Thơ Việt Nam 1945-2000 lấy cảm hứng hồ Bán Nguyệt để ca ngợi mảnh đất, con người Hưng Yên.

Năm 1994, nhạc sĩ Trần Thanh Tùng phổ thành ca khúc “Tình khúc Nguyệt Hồ”, đoạt giải thưởng Văn học Nghệ thuật Côn Sơn, có sức lan tỏa khá rộng khắp. Từ khi Hưng Yên tái lập năm 1997, đời sống văn nghệ phát triển khá mạnh mẽ. Nhiều tác giả trong và ngoài tỉnh tiếp tục viết về hồ Bán Nguyệt, về Phố Hiến.

Bài viết này có thể kể đến Chuyện một con hồ lạc mẹ thơ của Đỗ Trung Lai, ca khúc “Giấc mộng Nguyệt Hồ” (Bùi Xuân Thể phổ thơ Lê Cù) và nhiều bài thơ, truyện ngắn, ca khúc, ảnh, tranh khác.

Vì yêu, nên ngay cả tên gọi cũng có những ý kiến khác nhau hồ Bán Nguyệt/Nguyệt hồ/Bán Nguyệt hồ. Không sao, tùy văn cảnh, chúng ta gọi sao cho hay là được. Ngôn ngữ Việt vô cùng huyền diệu, cái đúng trong ngôn ngữ luôn gắn liền với cái hay, cái đẹp. Ngôn ngữ nghệ thuật, hình tượng văn học có quy luật gọi tên riêng của nó.

Cái tên hồ Bán Nguyệt/Nguyệt Hồ đã in dấu trong ngôn ngữ dân gian, trong thơ ca, hội họa từ hàng trăm năm, gắn với những tên tuổi khoa danh đất Phố Hiến như Lê Cù Nguyệt Hồ cư sĩ, Tiến sĩ Chu Mạnh Trinh - bậc hay chữ, tài tử đất Hưng Yên, hay nghệ nhân vô danh tác giả của bức tranh Nguyệt Hồ thắng cảnh cho đến các tác phẩm văn học nghệ thuật đương thời. Không chỉ sống trong ngôn ngữ dân gian, trong văn học nghệ thuật, hồ Bán Nguyệt/Nguyệt Hồ còn đi vào cả văn bản chính thống, trở thành tên đường phố hôm nay, làm đẹp thêm cho một thắng cảnh đất văn hiến Hưng Yên.

Trong bài thơ "Huyền thoại Nguyệt Hồ", tác giả đã nhiều lần sử dụng thủ pháp tu từ này. Hình ảnh mặt hồ như vầng trăng lưỡi liềm, con đê chạy như đường kẻ vội là một ẩn dụ giàu chiều sâu cảm xúc và liên tưởng:

Ai kể một đêm đầy trời trăng nhuộm
Mặt nước hồ sóng sánh một hồ trăng…
Con đê chạy như một đường kẻ vội
Đưa sông Hồng về với biển thiêng liêng
Để lại dáng hồ nghiêng nghiêng con mắt
Nước mờ xa vầng trăng dáng lưỡi liềm…
Và như thế lòng ta tha thiết
Khi gọi lên hai tiếng Nguyệt Hồ…

Bởi vì bản thân cái tên hồ Bán Nguyệt đã là một cách thi vị hóa cảnh sắc của ngôn ngữ dân gian. (Nếu gọi đúng theo hình thể, có lẽ phải là Lưỡi liềm nguyệt hồ hay Hồ lưỡi liềm nguyệt)... Nhưng dù gọi thế nào, vẫn là trăng - vầng trăng mang mọi dáng hình: từ mồng Một lưỡi trai, mồng Hai lá lúa đến Rằm tròn vành vạnh.

Khi dân gian gọi hồ Bán Nguyệt, đó là cái nhìn trực cảm, mộc mạc. Còn khi thi ca, âm nhạc, hội họa cất lời, cái tên ấy được nâng lên thành biểu tượng - Nguyệt Hồ. Đó không còn là tên của một hình thể nữa, mà là một ẩn dụ đầy chất thơ, giàu sức liên tưởng. Một ẩn dụ lặng lẽ mà lấp lánh, nơi hồ không chỉ in bóng trăng trên trời, mà chính là trăng đang hiển hiện trong lòng phố.

Chúng ta đang sống trong những thời khắc của lịch sử với niềm tin về sự hồi sinh trở lại của một Tiểu Tràng An, những ứng xử với Nguyệt Hồ của người dân, nhất là các nhà chức trách cần thận trọng, bởi sự vô tâm của con người với vùng huyệt đạo thiêng của Phố Hiến hôm nay, sẽ dễ dẫn đến sự tiếc nuối khó xử cho con cháu mai sau.

… Bởi đất lành nên phồn hoa lại đến
Lòng người nhân hậu phúc cháu con
Sẽ rạng rỡ cả một vùng Phố Hiến
Tiểu Tràng An xưa ngỡ vẫn như còn…

(trích "Hưng Yên một khúc sử ca" - Nguyễn Khắc Hào 2009).

Nguyễn Khắc Hào

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).