Khúc hoan ca của một thời trai trẻ

Nếu chỉ được quyền chọn mười tác phẩm văn học của Việt Nam trong thế kỷ XX để mang theo vào thế kỷ XXI, bạn sẽ chọn những tập sách nào? Đã có câu hỏi đặt ra như vậy với Tế Hanh và ông nhà thơ lớn này đã không trù trừ khẳng định ngay: Ông chỉ chọn hai tác phẩm thôi, một văn, một thơ. Đó là tập "Vang bóng một thời" của Nguyễn Tuân và tập "Thơ thơ" của Xuân Diệu.

Nếu chỉ được quyền chọn mười tác phẩm văn học của Việt Nam trong thế kỷ XX để mang theo vào thế kỷ XXI, bạn sẽ chọn những tập sách nào? Đã có câu hỏi đặt ra như vậy với Tế Hanh và ông nhà thơ lớn này đã không trù trừ khẳng định ngay: Ông chỉ chọn hai tác phẩm thôi, một văn, một thơ. Đó là tập "Vang bóng một thời" của Nguyễn Tuân và tập "Thơ thơ" của Xuân Diệu.

Tôi không "mạo hiểm" như Tế Hanh khi quyết định chọn "Thơ thơ" làm "tập thơ thế kỷ", song nếu ai đó bảo tôi bỏ phiếu chọn lấy một tập thơ đặc sắc nhất của phong trào Thơ Mới, hẳn tôi cũng sẽ nghiêng về tác phẩm này.

Có thể với từng bài, trong thể hiện tư tưởng Xuân Diệu không có được cái mạch lạc, khúc chiết như ở "Nhớ rừng" của Thế Lữ; trong xúc cảm chưa gợi được sự bâng khuâng, mơ màng như ở "Tiếng thu" của Lưu Trọng Lư; trong giọng điệu chưa có được cái ngùi ngẫm, thấm thía như của Huy Cận ở "Tràng giang", và trong hình ảnh chưa có được chất liêu trai, gây ấn tượng mạnh như ở "Đây thôn Vỹ Dạ" của Hàn Mặc Tử. Nghĩa là theo kiểu "bó đũa chọn cột cờ" thì không phải ưu thế đã hoàn toàn thuộc về "Thơ thơ", nhưng xét về tổng thể thì không tập thơ nào của thời Thơ Mới tập trung được nhiều cái hay, cái lạ như ở tập thơ đầu tay của Xuân Diệu.

Quang cảnh buội hội thảo "Xuân Diệu - người tình si" do Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội tổ chức.
Quang cảnh buội hội thảo "Xuân Diệu - người tình si" do Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Hà Nội tổ chức.

Nói không sợ quá lời: Với "Thơ thơ" (1938) và sau này là "Gửi hương cho gió" (1945), Xuân Diệu ở một đẳng cấp khác hẳn, gần như không có đối thủ. Không phải ngẫu nhiên mà một thi sĩ từng có lúc ngông ngạo, coi trời bằng vung như Chế Lan Viên, khi đề tặng Xuân Diệu tập "Điêu tàn" đã có những lời lẽ hết sức khiêm cung: "Anh Xuân Diệu, sách của em đây. Anh nhận cho em, anh". Còn Hàn Mặc Tử thì viết bên lề tập "Gái quê" gửi tặng Xuân Diệu: "Tôi gửi tặng anh tập thơ của tôi, vì đọc thơ anh, tôi thấy nỗi khổ của tôi được xoa dịu nhiều lắm".

Bản thân nhà phê bình văn học Hoài Thanh, trong "Thi nhân Việt Nam", khi nói về Xuân Diệu đã phải dùng tới hai chữ "tối tân": "Người đã tới giữa chúng ta với một y phục tối tân và chúng ta đã rụt rè không muốn làm thân với con người có hình thức phương xa ấy".

Cái "y phục tối tân", cái "hình thức phương xa" mà Hoài Thanh nói tới chính là cách đặt câu, dùng chữ quá Tây của Xuân Diệu, từng khiến nhiều người choáng ngợp ngay khi thơ ông mới xuất hiện.

Tuy nhiên, xét cho cùng, mọi sự cách tân muốn chinh phục được đông đảo người đọc và chinh phục được một cách bền lâu thì không chỉ là cái mới, cái lạ thể hiện ở lối nói, mà cao hơn thế, nó phải thể hiện ở sự bứt phá của cái "tôi" cá nhân thi sĩ. Nghĩa là phải mới thực sự về "chất", chứ không phải chỉ ở "y phục". Mà đây thuộc về vấn đề thời đại, kết hợp với cá tính của chính tác giả. Hãy bỏ qua cái "tôi" thể hiện một cách quá ư ẩn khuất trong thơ cổ, ngay trong các nhà thơ cùng thời với Xuân Diệu, dù là đã "cựa quậy" lắm so với trước, song phần nhiều nó vẫn thể hiện trong một phong thái lịch sự, kín đáo, theo lối cổ truyền Á Đông. Xuân Diệu khác hẳn, cái "tôi" của ông bạo dạn, táo tợn lạ thường. Các động tác thể hiện trong thơ ông mới dữ dội làm sao: Nào là "cắn" ("Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi" - bài "Vội vàng"), là "bấu" ("Tôi kẻ đưa răng bấu mặt trời" - bài "Hư vô"), là ôm, là ghì ("Giơ tay muốn ôm cả trái đất/ Ghì trước trái tim, ghì trước ngực" - bài "Bài thơ tuổi nhỏ")…mà toàn là với thiên nhiên, tạo vật, với đấng Vĩ Đại.

Ví mình là "một cây kim bé nhỏ", trong khi "vạn vật là muôn đá nam châm", Xuân Diệu cho mình cái quyền được lả lơi, mơn trớn, được xô đẩy, được bị tác động bởi ngoại cảnh, bởi người đời, tình đời. Không rõ ai là người đầu tiên trong thơ Việt đề cập tới việc trai gái hôn nhau? Chỉ biết, ở thời Xuân Diệu, những câu như thế này của Hàn Mặc Tử đã được xem là "bạo" lắm rồi: "Làn môi mong mỏng tươi như máu/ Đã khiến môi tôi mấp máy thèm" (bài "Gái quê"). Vậy nhưng so với câu thơ của Xuân Diệu "Kẻ uống tình yêu dập cả môi" (bài "Hư vô"), nó cũng chưa nhằm nhò gì.

Đến cái "ăn", cái "uống" của Xuân Diệu cũng khác người. Ông nhìn "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần" (bài "Vội vàng"); ông muốn "Nên lúc môi ta kề miệng thắm/ Trời ơi, ta muốn uống hồn em" (bài "Vô biên"). Trước Xuân Diệu, trong thơ Việt làm gì có ai có lối thể hiện cảm xúc mạnh mẽ nhường này? Phải yêu đời, yêu người, phải khát sống đến độ nào người ta mới cuồng nhiệt đến vậy.

Trong "Thi nhân Việt Nam", viết về Xuân Diệu, nhà phê bình Hoài Thanh đã có một nhận xét mang tính đúc kết mà tôi phải ngẫm ngợi rất nhiều. Vâng, đó là câu: "chỉ những người lòng còn trẻ mới thích đọc Xuân Diệu mà đã thích thì phải mê".

Đã có lúc tôi đặt câu hỏi: Chẳng lẽ "chỉ những người lòng còn trẻ mới thích đọc Xuân Diệu"? Nhưng rồi tôi hiểu ra là, những người "lòng còn trẻ" khác với những người "còn trẻ" (có những người tuổi cao nhưng "lòng còn trẻ"). Mà số này chưa hẳn đã ít. Và tôi cũng ý thức được rằng, trong thực tế, cũng đã có những độc giả không thật thích thơ Xuân Diệu.

Với những người này, thơ Xuân Diệu thời trẻ có gì đó "bồng bột", ồn ào chứ không được sâu lắng, thấm thía như một số bài trong "Lửa thiêng" của Huy Cận. Riêng tôi, nhớ lại những cảm xúc ban đầu khi đến với thơ Xuân Diệu, tôi thầm bái phục sư phụ Hoài Thanh sao mà nói "trúng tim đen" đến vậy. Đúng là với "Thơ thơ", với "Gửi hương cho gió", nói "thích" chưa đủ, phải nói là "mê" mới đúng. Những hình ảnh trang hoàng lộng lẫy, đẹp một cách đài các được lồng trong những vần thơ ngân vang như chuông vàng khánh bạc đã gây xôn xao náo nức hồn tôi suốt một thời hoa niên…

Đến nay, tôi vẫn không sao quên được những cảm xúc dào dạt khi ở tuổi chớm yêu, lần đầu được đọc thơ Xuân Diệu:

Đêm thứ bảy, chính là đêm thứ nhất
Chẳng bao giờ ngăn được gót thanh niên
Khi bóng tối cũng reo hò: chủ nhật
Và áo màu làm gió, phất qua hiên

(bài "Đêm thứ nhất").

Nói về hay thì những câu thơ trên chưa thuộc những câu hay nhất, đáng nhớ nhất của Xuân Diệu, nhưng nó rất gợi những xúc cảm thời thanh xuân. Có lẽ chỉ "khi người ta trẻ", người ta mới thấy hết cái hay, cái ý vị của câu thơ "Đêm thứ bảy, chính là đêm thứ nhất", mới thấy sức gợi và cái hay của câu "Khi bóng tối cũng reo hò: chủ nhật". "Bóng tối" hay tiếng lòng của người thanh niên reo hò đón chào ngày chủ nhật - ngày nghỉ và cũng là ngày hò hẹn của các cô cậu học sinh, sinh viên, khi vút qua mắt họ là những "áo màu làm gió phất qua hiên"?

Cũng dào dạt, phơi phới như vậy là mấy khổ thơ trong bài "Xuân đầu":

Hỡi năm tháng vội đi làm quá khứ!
Trở về đây! và đem trở về đây
Rượu nơi mắt với khi nhìn ướm thử
Gấm trong lòng và khi đứng chờ ngây

Và nhạc phất dưới chân mừng sánh bước
Và tơ giăng trong lời nhỏ khơi ngòi
Tà áo mới cũng say mùi gió nước
Rặng mi dài xao động ánh dương vui.

Đúng là "Xuân đầu", không khí xôn xao, náo nức như ngày hội. Chỉ với vẻn vẹn 16 chữ: "Tà áo mới cũng say mùi gió nước/ Rặng mi dài xao động ánh dương vui", tác giả trẻ đã làm nổi bật lên được vẻ đẹp cũng như những xao động trong tâm hồn các thiếu nữ ở buổi bình minh của cuộc đời. Câu thơ không chỉ tràn ngập nắng gió, tiếng reo vui của lòng người mà còn có cả sự "tiền hộ hậu ủng" của thiên nhiên tạo vật…

Trong "Thơ thơ" và "Gửi hương cho gió", không ít lần Xuân Diệu cất tiếng hát ca ngợi tuổi xuân, cũng như không ít lần ông thể hiện nỗi hoang mang trước bước nhảy của thời gian. Nói về chủ đề này, câu thơ Xuân Diệu đầy xốn xang, chộn rộn. Trước Xuân Diệu, Thế Lữ từng viết trong "Khúc ca hoài xuân":

Tiếng ve ran trong bóng cây râm mát
Giọng chim khuyên ca ánh sáng mắt trời
Gió nồng reo trên hồ sen rào rạt
Mùa xuân còn, hết? khách đa tình ơi!

Cũng là tiếng ve ran, là gió nồng reo, là khách đa tình, là hồ sen, là sự rào rạt, vậy nhưng câu thơ vẫn có gì đó hụt hơi, như thể bậc danh ca đã không còn ở đỉnh cao danh vọng? Trong khi, hãy nghe Xuân Diệu, cũng chủ đề trên, giọng thơ rộn rã, rung vang, khỏe khoắn lạ thường, tưởng như đó là khúc ca bất tận:

Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
 

Của ong bướm nay đây tuần trăng mật
Này đây hoa của đồng nội xanh rì
Này đây lá của cành tơ phơ phất
Của yến anh này đây khúc tình si

(bài "Vội vàng")

Tất cả là ở sức trẻ. Thơ Xuân Diệu có ma lực bởi giọng điệu thơ ông lúc thì thổn thức, khắc khoải, khi thì réo rắt si mê, nó là tiếng hoan ca và bi ca của một người lòng tràn đầy sức trẻ và luôn hướng về tuổi trẻ.

Phạm Khải - Xuân 2015

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).