Đọc “Nậm Ngặt mây trắng”, tiểu thuyết của Nguyễn Hùng Sơn, NXB Văn học, 2019

Khúc bi tráng thứ tư

Sự hấp dẫn của “Nậm Ngặt mây trắng”, theo tôi, phần nhiều lại nằm ở những câu chuyện phía sau người lính và những gì diễn ra trước giờ nổ súng, như là cấu tứ chính yếu của tiểu thuyết. Được tác giả tin cậy trao gửi bản thảo đọc và góp ý, tôi đã hơn một lần chia sẻ cần phải tìm ra cái cấu tứ của tác phẩm, nếu không sự viết sẽ trượt theo tư liệu...

Sống bám đá, chết hóa đá

Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc kéo dài gần một thập niên (tính từ tháng 2-1979) đã được tiểu thuyết hóa qua các tác phẩm “Mình và họ” của Nguyễn Bình Phương, “Xác phàm” của Nguyễn Đình Tú, “Gió Thượng Phùng” của Võ Bá Cường và “Nậm Ngặt mây trắng” của Nguyễn Hùng Sơn. Mỗi tác phẩm thành công một vẻ.

Khỏi phải nói về sự tàn khốc của chiến tranh biên giới diễn ra ở Hà Giang năm 1984. Có những ngày đối phương bắn cả 100.000 quả đạn đại bác, cối sang phía trận địa của ta. Đã có những hình ảnh “lò vôi thế kỷ” để nói về sức hủy diệt của đạn bom. Những đỉnh núi trước đây xanh rì màu cây lá nay bình địa, trọc lốc, trắng phơ đất đá. Đã có cảnh xe của ta chở liệt sỹ, thương binh về phía sau không có mui bạt phủ che, phô ra cái cảnh đau lòng cho người còn sống và còn tiếp tục chiến đấu.

Đã có cảnh một tiểu đội một ngày chỉ được có 3 lít nước trên điểm cao nắng nóng, mù mịt khói bom thuốc súng. Đã có cảnh một tiểu đoàn quân chủ lực trụ vững trên cao điểm 772 hy sinh cả tiểu đoàn trưởng và 300 chiến sỹ, số bị thương hàng trăm khiến “Đội hình trống hoác”.

Cái mất mát lớn nhất do cuộc chiến của kẻ thù gây ra là chúng ta đã mất đi những những con ưu tú nhất của đất nước khi họ mãi mãi tuổi 20 “Mất hết rồi anh ơi! Toàn những đứa như thiên thần anh ơi!” (tr.338).

Những chiến sỹ trên mặt trận Vị Xuyên, Hà Giang năm đó đã chiến đấu theo tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Đó là Trung đội trưởng Nguyễn Viết Ninh, người dân tộc Mường ở Phú Thọ, đã khắc lên báng súng của mình câu khẩu hiệu “Sống bám đá, chết hóa đá, thành bất tử”. Anh bị thương ba lần nhưng kiên quyết không rời trận địa, chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Đó là Đài trưởng Đài quan sát pháo binh của Sư đoàn 3 Nguyễn Văn Đan yêu cầu hỏa lực mạnh của ta bắn cấp tập vào đài quan sát của mình vì quân địch tràn lên quá đông.

Trước sự lưỡng lự của trận địa pháo, anh khẩn thiết yêu cầu: “Đằng nào thì tôi cũng hy sinh, nhưng hỏa lực ta cấp tập vào đài thì rất nhiều tên địch sẽ bị tiêu diệt” (tr.251). Pháo ta đã trả lời. Hàng trăm tên địch hung hãn đã bị tiêu diệt. Và một sự kỳ diệu không mấy ai tin: Nguyễn Văn Đan vẫn sống và trở về chiến đấu.

Đó là sự hy sinh anh dũng của Tiểu đoàn phó Vũ Ngọc Ngạn đã đem thân mình nằm đè lên quả lựu đạn của tên thám báo địch bất ngờ tung vào hang (nơi có nhiều sỹ quan chỉ huy cấp tiểu đoàn, trung đoàn đang triển khai kế hoạch tác chiến). Anh đã hi sinh thân mình để cứu mạng đồng đội: “Vũ Ngọc Ngạn là vị cứu tinh của họ, là tấm gương sáng, là một anh hùng” (tr.355).

Tác phẩm mới của nhà văn Nguyễn Hùng Sơn.
Tác phẩm mới của nhà văn Nguyễn Hùng Sơn.

“Ở nơi đá cũng biến thành vôi bột” thì đủ thấy mức độ ác liệt của cuộc chiến. Dù tác giả đã “bấu chặt” lấy hiện thực khi viết thì tôi nghĩ, vẫn chưa thể lột tả hết cái khung cảnh khốc liệt những người lính đã chiến đấu, hy sinh để bảo vệ từng tấc đất biên cương, giữ vững phên giậu của Tổ quốc.

Cái câu “Máu người không phải là nước lã” có người cho là quá khắc nghiệt, tàn nhẫn. Nhưng những trang viết của Nguyễn Hùng Sơn trong “Nậm Ngặt mây trắng” lại rất sát hợp.

Phía sau người lính

Sự hấp dẫn của “Nậm Ngặt mây trắng”, theo tôi, phần nhiều lại nằm ở những câu chuyện phía sau người lính và những gì diễn ra trước giờ nổ súng, như là cấu tứ chính yếu của tiểu thuyết. Được tác giả tin cậy trao gửi bản thảo đọc và góp ý, tôi đã hơn một lần chia sẻ cần phải tìm ra cái cấu tứ của tác phẩm, nếu không sự viết sẽ trượt theo tư liệu (vì trong thời đại thông tin thì tư liệu có thừa).

Mười tám chương của tiểu thuyết, tác giả dành hẳn bảy chương đầu và xen kẽ trong các chương tiếp theo để miêu tả những gì thuộc về phía sau người lính – quê hương, gia đình, tâm trạng, cảnh ngộ, số phận của mỗi cá thể trong cộng đồng rộng lớn.

Tiểu thuyết có nhiều nhân vật, nhưng theo tôi ấn tượng hơn cả là bộ ba Trần Việt Hưng, Vũ Ngọc Ngạn và Phan Văn Lê. Phải nói ngay, Trần Việt Hưng và Vũ Ngọc Ngạn là một cặp bài trùng. Họ đều là sỹ quan được đào tạo bài bản, kinh qua thực tiễn chiến đấu, phát huy nội lực, trưởng thành trong chiến tranh. Nhưng tính cách và gia cảnh, thân phận thì không giống nhau. Nếu Trần Việt Hưng có một hậu phương vững mạnh (nhờ vào sự tháo vát đảm đang và chung thủy của cô vợ Bích, cô giáo làng, nghề nghiệp ổn định), thì trái lại Vũ Ngọc Ngạn lại rơi vào cảnh hạnh phúc riêng tư bị sứt mẻ, có nguy cơ đổ vỡ (cô vợ Liệu ở nhà ngoại tình, có con với người khác).

Với sự độ lượng, vị tha của người lính được trui rèn qua thử thách, anh đã tha thứ, đã giải quyết tốt việc riêng để trở lại chiến trường. Ban đầu, Vũ Ngọc Ngạn đã có lúc bảo an, tính chuyện rút về phía sau (xin về công tác ở Quân khu) để an toàn. Hơn thế, do nôn nóng nên có lúc đã cạnh tranh, đố kỵ với Trần Việt Hưng gây cho người đồng chí, đồng hương không ít khó khăn về chuyện riêng tư. May mắn là Vũ Ngọc Ngạn gặp được người anh, người đồng đội nhân ái, rộng lượng, hòa hiếu nên đã không bị “trầy vi tróc vảy”.

Nhưng Vũ Ngọc Ngạn là người cầu thị nên sự tiến bộ về sau của anh không bị những sai sót trước đó ngăn cản. Sau cuộc lột xác nghiêm khắc, anh trở thành con người khác - quang minh chính đại. Về cuối tác phẩm anh đã hy sinh anh dũng để cứu mạng sống nhiều đồng đội. Đồng đội coi anh là tấm gương sáng, là một anh hùng.

Phan Văn Lê là mẫu hình người lính mới. Đã có lúc anh suýt bị quy vào tội đào ngũ vì trên đường hành quân qua quê Thanh Hóa đã tự động bỏ đơn vị về thăm bà ốm nặng. Anh không thuộc diện gọi là “tụt tạt”, nhưng rõ ràng là cần phải phê phán khi vì cảm tính, cảm tình riêng tư mà coi thường quân phong quân kỷ, vì sức mạnh của quân đội nhân dân là tinh thần kỷ luật. Anh đã chứng minh mình là một người lính thực thụ trong chiến đấu.

Một tình huống éo le đã xảy ra, anh và kẻ địch cùng ôm nhau lao xuống khe sâu trong một trận quyết chiến. Rất lạ là cả hai không chết. Anh tỉnh lại trước và có ý định tiêu diệt kẻ địch. Nhưng kẻ địch lúc đó là một tấm thân bất động, yếu ớt, bất lực. Khi đồng bọn của tên thám báo kéo đến, chúng đã không bắn anh vì biết chính anh đã tha mạng cho người của chúng.

Hành động này của Phan Văn Lê khiến có sự đánh giá khác nhau trong đơn vị, có người cho rằng hành xử như thế là sai về quan điểm, lập trường cách mạng. Lúc đó Trung đoàn phó chính trị Trần Việt Hưng đã thể hiện quan điểm: “Sao lại mất quan điểm lập trường? Trái lại, đây phần sáng đẹp của tâm hồn rất tự nhiên, rất nhân văn” (tr. 268).

Cũng từ sự kiện rơi xuống khe sâu, lạc đường mà anh gặp được “một nửa” của mình - đó là Thủy, một sơn nữ xinh đẹp dịu dàng. Số phận đã gắn kết họ với nhau như câu chuyện cổ tích giữa đời thường.

Viết về chiến tranh, Nguyễn Hùng Sơn đã chú ý miêu tả mối quan hệ giữa chiến tranh và con người, sự tác động qua lại của nó được hiểu như là mối quan hệ giữa tính cách và hoàn cảnh. Đã có ý kiến cho rằng, chiến tranh có thể phát huy nhân tính nhưng đồng thời cũng phát lộ phản nhân tính.

Chiến tranh có quy luật riêng, khắc nghiệt vì nó là cái bất bình thường trong đời sống của nhân loại. Con người có thể trở nên cao cả, nghĩa hiệp hơn. Con người có thể mắc sai lầm thường tình. Chiến tranh có thể làm đảo lộn tất cả nhưng không thể biến con người thành “con sâu cái kiến”.

Nguyễn Hùng Sơn, theo tôi, thuộc số tác giả trung thành với sự thật nhưng không có ý bôi đen sự thật chiến tranh. Máu người không phải là nước lã. Anh viết bằng tất cả tấm chân tình của mình về đồng đội: “Với “Nậm Ngặt mây trắng” tác giả bày tỏ niềm cảm phục sâu sắc và tri ân các anh hùng, liệt sỹ đã hiến dâng tuổi thanh xuân vì sự vẹ toàn biên cương của Tổ quốc!”.

Lời kết

Người dân Nậm Ngặt (1 trong 7 thôn bản của xã Thanh Thủy huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang) thường nói: “Mồ mả Tổ tiên, quê cha, đất mẹ thì không làm lại được đâu a!”. Tưởng chừng như súng đạn kẻ thù trút xuống thì trở về thời đồ đá cũ. Nhưng thật bất ngờ: “Trên cao, trời rất xanh, những đám mây trắng xếp chồng lên nhau chất ngất, nhiều tầng, nhiều lớp, dài nhoằng như đoàn tàu đang đứng yên. Nhưng chăm chú nhìn kỹ thì “đoàn tàu” đang chầm chậm rời ga.

Đúng rồi, lúc này mới quá trưa, những đám mây trắng  đang che nắng cho các trận địa. Lính ta vẫn nói nhiều về những đám mây đó thôi”. Tiểu thuyết ''Nậm Ngặt mây trắng'' vinh dự nhận Giải thưởng Hạng B, Văn học nghệ thuật (2014-2019) của Bộ Quốc phòng.

Bùi Việt Thắng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).