Anh trở về
sông đã phù sa
thành phố không còn tháng bảyThành phố muộn màng như một bàn tay
dưới những vòm cây
xao xác niềm cô đơn tuổi nhỏGió
những vì sao ban mai và những kí ức cũ
ta từng xanh trong nhauKhông ai bắt đầu từ chỗ trống
gió đầy vai
em mang chiều đi tắmBuổi chiều mềm và ấm
sông Hồng như gương mặt người say
anh đối diện thời gian uống rượu
chàng Trương Chi gõ mạn thuyền đầy.
Năm 1982, từ Đà Nẵng, Nguyễn Trác với vọng về Hà Nội qua bài "Hát tặng một dòng sông". Đó là những lời thủ thỉ tâm tình của anh với quê hương sau bao năm cách xa (nhà thơ của chúng ta vốn gốc người Hà Nội: Anh sinh ở phố Gia Ngư và có một thời gian sống cùng gia đình tại phố Hàng Bạc). Đây- những câu thơ tự sự: "Tôi lớn lên bên cạnh sông Hồng/ Phù sa đắp bồi giấc mơ tuổi nhỏ/ Ngọn gió thổi qua vòm cong mái nhà Bác Cổ/ Qua những bến Chương Dương, Hàm Tử/ Vào giọng bà kể chuyện đêm đêm".
Vì lẽ ấy, mỗi lần về thăm lại Hà Nội với anh đều trở nên trang trọng. Anh gọi đó là "ngày về", gọi bài thơ ghi dấu ấn cảm xúc ấy là "Ngày về". Thoạt nhìn thấy con sông - con sông từng nhiều lần chảy trong niềm tự hào của anh: "Hồng Hà ơi, anh cả những dòng sông/ Thanh gươm lửa cài bên hông thành phố", tâm hồn anh đã náo nức, dào dạt. Câu thơ cũng theo đó phồng lên như cánh buồm no gió, chất chứa tự hào:
Anh trở về
sông đã phù sa
thành phố không còn tháng bảy
Thành phố đã qua tháng bảy, tức là qua mùa nước lên, sông trở lại bình yên và phù sa còn đọng lưu dấu tích. Câu thơ nghe mà lồng lộng gió. Có thể nói, bài thơ này thật nhiều... gió (tác giả viết về vùng đất bãi ven sông có khác). Gió trong cái khí vị của câu thơ vừa dẫn. Gió trong cái xao xác gợi sự đơn lạnh một thời thơ:
dưới những vòm cây
xao xác niềm cô đơn tuổi nhỏ
Gió trong sự thông suốt giữa "những vì sao ban mai và những ký ức cũ" (thơ Võ Văn Trực: "Thoáng gió vô hình như bàn tay mát rượi/ Dắt tâm tự đi suốt chân trời"). Gió nối chúng lại, bắt chúng soi rọi vào nhau mà hóa ra đồng màu. Rồi "gió đầy vai" người, gió bên mạn thuyền long bong sóng vỗ...
Bài thơ cứ vậy mà phần phật trải rộng theo một hướng. Mạch cảm xúc dồn dập theo tiết tấu nhịp điệu, song cứ sau mỗi khổ lại là một khoảng ngừng nghỉ. Sự đan nối giữa các hình ảnh và các ý tưởng cũng khá linh hoạt, uyển chuyển, có phần lắt léo nữa. Khi nhà thơ viết:
Thành phố muộn màng như một bàn tay
Thì cái câu thơ "bàn tay" này có đu bám (về ý) với dòng thơ dưới không? (hay chỉ là sự tiếp nối vần điệu không thôi). Vì rõ ràng chỉ cần 2 dòng: "Dưới những vòm cây/ Xao xác niềm cô đơn tuổi nhỏ" cũng đã hoàn toàn là một ý trọn vẹn. Nếu cả 3 dòng này đều nhập vào một khối thì thật khó phân định được rõ rệt ý tưởng của tác giả, mặc dù tôi hiểu, ngay lập tức, những xúc cảm dào dạt của tác giả đã trùm lấp, đã phân tán những chút gì gọi là "nghi vấn" trên.
Đúng là "không ai bắt đầu từ chỗ trống". Các ý tưởng thơ Nguyễn Trác cũng "không bắt đầu từ chỗ trống". Mặc dù mỗi khổ thơ đều có vẻ như một "ốc đảo", nhưng sự giao lưu giữa các khổ thơ ta có thể nhìn thấy được. Bài thơ có 5 khổ, khổ nào cũng kết lại bằng một câu khẳng định (hoặc có sự nhấn nhịp mạnh). Câu cuối cùng của khổ này lại được nối với câu mở đầu của khổ kia bằng sự nối tiếp của hình ảnh (trường hợp câu cuối khổ 2 với câu đầu khổ 3), sự chuyển ý (trường hợp câu cuối khổ 3 và câu đầu khổ 4), sự lặp chữ (trường hợp câu cuối khổ 1 với câu đầu khổ 2, câu cuối khổ 4 với câu đầu khổ 5, cụ thể ở đây là các chữ thành phố, chữ chiều). Làm động tác liệt kê ấy, tôi không muốn gì khác ngoài một điều: chứng minh để bạn đọc thấy tại sao các khổ thơ tưởng cắt rời mà mạch cảm xúc vẫn quán xuyến được từ dòng đầu cho tới dòng cuối của bài. Điều này tôi nghĩ các bạn làm thơ trẻ hiện nay nên lưu tâm một chút. Chí ít là tham khảo để làm sao các câu thơ có thể "họ hàng xa" với nhau nhưng vẫn tìm được cái lý để liên kết với nhau. Một bài thơ mà không có được mạch cảm xúc nhất quán thì thật khó mà tồn tại được lâu bền trong tâm chí người đọc. Ấy là chưa kể, từ bài thơ của Nguyễn Trác tôi nhận thấy: Thơ có thể để người đọc khó nắm bắt được ý tưởng, song phải để họ "cảm" được, chí ít thì cũng như gió, không nhìn thấy mà người ta vẫn thấy người phơi phới. Cái hay ấy toát ra qua sự thanh lọc của hình ảnh, sự tinh tế của âm điệu, sự ấm nóng của nhiệt độ cảm xúc...
Vả chăng, bài thơ của Nguyễn Trác còn có một số liên tưởng đặc sắc:
Gió đầy vai
Em mang chiều đi tắm
Em mang chiều đi tắm, mà chiều thì có thể là khoảng không gian sắp đổi màu. Có thể là vạt trời xanh, là khung trời tím. Ai đó từng viết: bình minh như chiếc khăn vắt vai, ở đây, chiều cũng vậy thôi. Em xuống tắm và khi em lên bờ, có lẽ là em khoác y phục của "tối" rồi
Những câu: "Sông Hồng như gương mặt người say", nhìn màu nước đỏ nghĩ ra sắc mặt người say chưa phải là một sáng tạo gì đặc biệt. Song từ đó mà "nâng cấp": "Anh đối diện thời gian uống rượu", mà biến hóa: "Chàng Trương Chi gõ mạn thuyền đầy" thì là cả sự sáng tạo kỳ công. Tác giả đã khép bài bằng một câu thơ thể hiện tư thế thật hào hoa, tuy có phần... tinh nghịch.
Thơ Nguyễn Trác thường không ồn ào. Giọng thơ anh thủ thỉ tâm tình và các dòng thơ bao giờ cũng có một khoảng để "ắng lại". Chính những lúc như thế lại tạo tiền đề cho những câu kế tiếp vút bay lên (nói như Ngô Thế Oanh: "Giữa hai dòng thơ là khoảng không lời/ Ta bay giữa khoảng không lời ấy"). Đọc "Ngày về", bằng vào những vần thơ trang nhã, những sắc vẻ hào hoa, thanh lịch, ta thấy anh đích thực là một thi sĩ, một thi sĩ Hà Nội