Khơi dậy tư duy phản biện khi dạy và học sử

"Học sinh chán sử". Đây là nhận định quen thuộc mà nhiều năm nay dư luận vẫn đưa ra mỗi khi nghe kết quả kỳ thi môn sử hằng năm của học sinh. Năm nay, môn sử ra đề theo dạng trắc nghiệm nên số lượng học sinh đăng ký dự thi khả quan hơn so với đề tự luận trước đây. Nhưng mừng thì ít mà lo lại thêm nhiều...

Trong buổi tọa đàm "Lịch sử được viết ra như thế nào?" tổ chức tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP Hồ Chí Minh vào trung tuần tháng 2, một cô giáo mạnh dạn khẳng định, học sinh hoàn toàn không chán sử. Có chăng là chúng ta chưa tìm ra cách dạy phù hợp cho các em.

Cô giáo này dẫn chứng rằng mình đã sử dụng nhiều biện pháp dạy học tích cực như lồng ghép hình ảnh trực quan, dẫn giải nhiều nguồn tài liệu, đi thăm các cựu chiến binh, kể những câu chuyện lịch sử hấp dẫn thì các em rất hào hứng.

Rõ ràng đã có nhiều thầy cô biết cách truyền tình yêu sử cho học sinh bằng cách dạy sáng tạo, sinh động. Có giáo viên đưa học sinh đi xem kịch lịch sử, có giáo viên biến mỗi tiết học là một vở kịch để học sinh tự hóa thân vào các nhân vật, điều này buộc các em phải tìm hiểu cuộc đời, sự nghiệp, tính cách nhân vật để thể hiện vở kịch được tốt.

Một buổi tham quan di tích lịch sử của học sinh. (ảnh: Quang Hùng).
Một buổi tham quan di tích lịch sử của học sinh. (ảnh: Quang Hùng).

Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Trần Quang Đức (tác giả của bộ sách "Ngàn năm áo mũ"), việc giáo dục lịch sử trong nhà trường hiện nay đa số vẫn một chiều, cứng nhắc, số giáo viên có ý tưởng và cách truyền dạy hấp dẫn rất hiếm hoi. Cách dạy của giáo viên vẫn theo lối đọc - chép, bê nguyên xi những gì có sẵn trong sách giáo khoa trong khi học sinh đã đọc trước, biết trước. Tài liệu tham khảo thì nghèo nàn, ít ỏi.

Phần nữa, lịch sử được ghi chép trong sách giáo khoa phần lớn là lịch sử chính trị, quân sự chứ không phải là lịch sử dân tộc, quốc gia đúng nghĩa. Trong khi đó lịch sử phải bao quát nhiều lĩnh vực như lịch sử văn hóa, lịch sử nghệ thuật, kinh tế, xã hội… để các em hình dung loài người phát triển ra sao trong quá khứ. Lịch sử cần được kể bằng lời văn mềm mại, nhẹ nhàng chứ không thể khô khan, cứng nhắc, nặng về liệt kê chiến công, lý giải như hiện nay.

Học sinh cấp 2, cấp 3 đã có tư duy phản biện. Đặc biệt, một môn khoa học xã hội như lịch sử rất cần tư duy này để tìm tòi, tiệm cận đến sự thật. Nhưng chương trình học bây giờ không cho phép các em có cơ hội phản biện, ai làm trái bị coi là cá biệt, là điểm kém. Nội dung trong sách giáo khoa không khác gì pháp lệnh, nặng nề những nhận định kiểu như "không thể chối cãi".

Lịch sử tất nhiên chỉ có một, nhưng không ai có thể nhìn nhận nó một cách toàn diện. Nhất là đối với thời đại có khoảng cách thời gian quá xa hiện tại. Mỗi người sẽ nhìn nhận dưới một lăng kính khác nhau, từ đó họ sẽ cho ra nhận định khác nhau. Nên dù câu chuyện do chính người trong cuộc kể lại nhưng đó cũng chỉ là câu chuyện ta nghe qua lăng kính của chính họ, họ không thể bao quát hết tình hình, hiểu thấu toàn cảnh cũng như từng góc khuất của sự kiện.

Việc các bạn trẻ tiếp xúc với văn bản thứ cấp, tức là những văn bản chữ quốc ngữ đã được các nhà nghiên cứu chuyển ngữ từ các văn bản Hán Nôm cũng là một hạn chế. Vì họ phải nhìn nhận lịch sử theo cách nhìn của người chuyển ngữ mà không tự đọc hiểu để tìm lấy kiến thức cho mình.

"Chúng ta sẽ như thế nào nếu chúng ta chỉ biết nhận những thông tin lịch sử một cách một chiều, không biết tự suy xét rằng chúng ta đang ở trong chiều dài lịch sử như thế nào? Con người của chúng ta là hai phần, con người sinh học và con người xã hội. Chúng ta vừa là những người làm nên lịch sử, ít nhất là lịch sử đời mình, đồng thời chúng ta cũng bị lịch sử tác động. Chúng ta buộc phải suy nghĩ, vận động tư duy để có được những kiến thức lịch sử bằng chính trải nghiệm của mình" - Tiến sĩ Trần Trọng Dương, Viện Nghiên cứu Hán Nôm nhấn mạnh.

Theo ông, lịch sử luôn luôn đa chiều, luôn luôn được bồi đắp. Bởi các phương thức tạo tác lịch sử vốn thông qua nhiều khía cạnh như: Mỹ hóa lịch sử (trường hợp cái chết của hai bà Trưng, Lý Thường Kiệt, Quang Trung là hình tượng anh hùng bất khuất);  Xú hóa lịch sử (trường hợp Lê Chiêu Thống, Nguyễn Ánh bị bêu xấu là những kẻ bán nước, hại dân, cầu viện thế lực nước ngoài); Thiêng hóa lịch sử hoặc huyền thoại hóa lịch sử (trường hợp Nguyễn Trãi, gò Đống Đa, tượng đá Mỵ Châu); Thời đại hóa lịch sử…

Kịch lịch sử là cách giáo dục trực quan sinh động được học sinh hưởng ứng.
Kịch lịch sử là cách giáo dục trực quan sinh động được học sinh hưởng ứng.

Các phương thức tạo tác lịch sử này ít nhiều sẽ khiến sự thật lịch sử bị khuất lấp bởi cái nhìn khu biệt. Ví dụ như ở phương thức Thời đại hóa lịch sử thì đến thời đại nào các lực lượng chính trị hay sử gia thời đại ấy sẽ xây dựng lịch sử theo ý muốn của mình bằng các thủ pháp khác nhau. Chẳng hạn như thời Lý - Trần, lịch sử được viết theo kiểu của Phật giáo. Từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX,  các sử gia Nho giáo lại viết theo thế giới quan của Nho giáo.

Do vậy, khi tìm hiểu lịch sử,  không nên câu nệ hay bám víu vào bất cứ một diễn giải nào, mà nên tìm hiểu đa diễn giải, đa giả thuyết. Và mỗi bộ óc là một bộ máy độc lập làm việc và tư duy trên đa diễn giải, đa giả thuyết ấy.

TS Trần Trọng Dương cho rằng khi tiếp cận lịch sử dưới góc độ khoa học cần nhận thức lịch sử như một nhu cầu khám phá sự thật của con người. "Những sự thật này được hình thành do nhiều yếu tố, đặc biệt dựa trên các nguồn sử liệu được ghi chép khác nhau. Thời điểm này chúng ta tìm thấy năm sử liệu nhưng thời điểm khác có thể có 50 sử liệu. Do đó, những diễn ngôn về lịch sử luôn tồn tại đa dạng và cần được tư duy trong tiến trình đối thoại không ngừng"- ông nhấn mạnh.

Nêu thêm một ví dụ về góc nhìn đa diện, đa diễn ngôn của lịch sử, nhà nghiên cứu Trần Quang Đức kể rằng trước đây, một ngân hàng ở Hà Nội làm tờ lịch ghi Sự tích Hồ Gươm với nội dung như sau: vua Lê Lợi đi dạo hồ thì con rùa nổi lên, vua thấy sinh vật này đáng ghét quá nên ném kiếm vào mặt nó. Con rùa ngậm được kiếm và lặn đi mất. Ngay lập tức ngân hàng này bị "ném đá" không thương tiếc.

Mọi người cho rằng viết như thế là xuyên tạc lịch sử, xúc phạm cha ông. Nhưng mọi người quên rằng thực chất câu chuyện này không phải là lịch sử, nó chỉ là một sự tích. Nhà nghiên cứu Trần Quang Đức cất công tìm lại các tư liệu thì tìm được những dị bản ở thế kỷ 18 có nội dung không khác gì câu chuyện mà tờ lịch của ngân hàng đã nêu.

Nhà nghiên cứu Trần Quang Đức cho rằng chính vì tiếp xúc càng nhiều sử liệu, càng nhiều diễn ngôn thì chúng ta sẽ có nhiều góc nhìn. Do đó việc dạy và học sử phải nhiều chiều để người học hình thành nên tư duy độc lập. Và để tiếp cận lịch sử, sự thật như nó vốn là thì phải coi đó là một môn khoa học. Tiệm cận với sự thật lịch sử không phải để phán xét lại người xưa mà để mỗi con người hiểu rõ hơn về quá khứ, về thời đại mình đang sống, tự rút ra cho mình bài học, cái gì cần noi theo, cái gì cần tránh để đi đến sự phát triển, phồn vinh.

Phan Thi Uyên

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).