Khó hiểu khó thuộc mới là thơ

Đúng là có một thời gian dài, theo quan điểm văn nghệ phục vụ công nông binh ngoại lai một cách giáo điều, người ta nhấn mạnh thơ và văn học nghệ thuật nói chung phải dễ hiểu, dễ thuộc. Có thể, trong một hoàn cảnh cụ thể, thơ dễ hiểu, dễ thuộc thâm nhập nhanh vào người đọc, sức lan tỏa rộng hơn, có sức trụ lại khá lâu bền, nhất là với số người trình độ văn hóa không cao lắm. Nhưng nhược điểm của nó cũng không nhỏ. Thơ loại này dễ nôm na, nặng về minh họa dễ dãi, đánh đồng người có tài và không có tài...

Thơ được coi là "quần chúng hóa" hạn chế khả năng sáng tạo của người nghệ sĩ, vê tròn mọi phong cách, làm mất đi khá nhiều thiên năng mà văn chương vốn có. Dĩ nhiên, với những nghệ sĩ đích thực, vượt qua những hạn chế đó, đi theo hướng trong sáng, giản dị, tác phẩm của họ đạt một tầm mức mới, vừa sâu sắc vừa dễ hiểu, dễ thuộc. Những phẩm chất cao nhất đó của nghệ thuật đó, khi kết hợp được với nhau sẽ tạo nên những đỉnh cao trong sáng tạo. Ta có thể gặp trường hợp này trong khá nhiều tác phẩm đỉnh cao của Hồ Chí Minh, Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Tố Hữu và nhiều người khác.

Trong văn học cách mạng, nhiều bài thơ của Tố Hữu, Hồ Chí Minh, Hồng Nguyên, Ca Lê Hiến, Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh… được lan rộng, nhớ lâu cũng là vì thế. Nhưng giờ đây, trong xu trào muốn lộn trái, muốn ngược lại với cái đã trở nên quen thuộc, nhiều ý kiến lại nhấn mạnh một cách cực đoan những ưu điểm của lối thơ khó hiểu, khó thuộc. Họ phủ định hoàn toàn lối thơ dễ hiểu, dễ thuộc, coi đó không là thơ và cho rằng không khó hiểu khó thuộc không phải là thơ hiện đại. Tất nhiên, một quan niệm không thể làm thay đổi được thực tế thơ, Quan niệm có thể một lúc nào đó nảy nở, lan rộng và chết đi nhưng thơ ca thì còn lại mãi, không hoàn toàn phụ thuộc vào những quan niệm nhất thời. Nhưng tiện đây, ta cũng nên bàn xem sao.

Một gian trưng bày thơ ấn tượng trong Ngày thơ Việt Nam lần thứ IX (2011) tổ chức tại Tp HCM.
Một gian trưng bày thơ ấn tượng trong Ngày thơ Việt Nam lần thứ IX (2011) tổ chức tại Tp HCM.

Gần đây, trong bài viết của mình đăng trên tạp chí Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật số 2, tháng 8/2012, tác giả Nguyễn Huy Thông đã dẫn ra khá nhiều ý kiến, phần nhiều của các cây bút trẻ như: "Dễ hiểu, dễ thuộc không bao giờ là thuộc tính của thơ" hoặc "Thơ ngày nay viết để đọc chứ không phải để thuộc. Thơ viết khó hiểu mới hay, mới sang trọng". Có người hình như còn muốn phủ định cả sự hiểu, sự thuộc, từ đó phủ định luôn cả công chúng khi tuyên bố: "Tôi chỉ làm thơ cho tôi, để cho tôi đọc". Không chỉ những ý kiến này, rải rác trong các cuộc hội thảo, trên các báo văn nghệ, ta còn nghe nhiều ý kiến cực đoan hơn, chẳng hạn: "Với đường lối văn nghệ phục vụ quần chúng đông đảo, thơ phải dễ hiểu, dễ thuộc, mấy chục năm qua, chúng ta đã kéo lùi sự phát triển của thơ ca nước nhà, ít nhất là trong hình thức biểu hiện, một đoạn dài" hoặc: "Lấy dễ hiểu, dễ thuộc là phẩm chất của một dòng thơ ca thấp cấp bao trùm lên số phận của toàn bộ nền thi ca là sự tự sát về mặt nghệ thuật"…vv… Những người có ý kiến ấy hoặc không ít người ủng hộ những ý kiến ấy muốn công chúng, nhất là công chúng trẻ sẽ dần hạ thấp những thành tựu của văn nghệ cách mạng hơn nửa thế kỷ qua và của nền văn nghệ truyền thống nước nhà, xây dựng một nền văn nghệ tách dần sự "dễ hiểu, dễ thuộc", cách tân, hiện đại theo những chuẩn mực xa lạ.

Thực ra dễ hiểu, dễ thuộc hay ngược lại khó hiểu, khó thuộc có phải là những phẩm chất hàng đầu để quyết định sự hay hoặc không hay của thơ không? Không. Thơ hay hoặc không hay trước hết ở nó có nhân văn không, nó có làm cho con người yêu hơn con người, yêu hơn cuộc sống, gắn bó với nó, cải tạo để nó ngày càng tốt đẹp hơn không. Còn những thuộc tính hình thức của thơ, phần nhiều do mối quan hệ giữa người đọc với văn bản thơ quy định. Nếu một bài thơ nói được điều người đọc nghĩ, đáp ứng được khát khao thẩm mỹ của họ; nếu đề tài, cấu tứ, hình ảnh thơ gần gụi… người ta sẽ dễ hiểu, dễ nhớ; nếu nó còn có vần, điệu, nhạc nữa, càng dễ thuộc. Nếu một bài thơ phải vận dụng nhiều lý trí để giải thích, chiêm nghiệm, lại không có vần hoặc vần điệu trúc trắc, bố cục khó nắm bắt, cách trình bày không gần với thơ, người đọc sẽ khó hiểu, khó thuộc.

Quang cảnh cuộc Hội thảo "Thơ Việt hiện đại nhìn từ miền Trung" do Hội Nhà văn tổ chức năm 2011.
Quang cảnh cuộc Hội thảo "Thơ Việt hiện đại nhìn từ miền Trung" do Hội Nhà văn tổ chức năm 2011.

Cùng một nội dung nhưng có nhiều cách biểu đạt. Có thể dễ hiểu, dễ thuộc như hàng chục vạn câu dân ca, ca dao trong dân gian; trong truyện nôm khuyết danh, trong sáng tác của những trí thức nhân dân, sống gần dân, như Nguyễn Đình Chiểu, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Phan Bội Châu, Tản Đà cùng rất nhiều nhà thơ trong phong trào thơ Mới, thơ cách mạng sau này hoặc có thể khó hiểu, khó thuộc với đa số người như thơ viết bằng chữ Hán, ngay cả với nhiều bài thơ viết bằng chữ quốc ngữ của Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, nhóm Xuân Thu Nhã tập. Có thể dễ hiểu, dễ thuộc như "Truyện Kiều" của Nguyễn Du, có thể khó hiểu như bài thơ "Màu thời gian" của Đoàn Phú Tứ được Hoài Thanh chọn vào "Thi nhân Việt Nam", nhưng dù có khác nhau bao nhiêu, các tác phẩm thơ đó vẫn có những điều chung, đó là những điều như vừa trình bày ở trên. Chính vì thế, đã là thơ hay thì dù có khó hiểu hay dễ hiểu vẫn luôn có chỗ đứng trong lòng công chúng, vẫn vượt qua thử thách của thời gian, trở thành tài sản văn hóa chung của con người. Không chỉ ở nước ta, thơ ca trên thế giới cũng vậy. Lấy thơ ca Pháp làm thí dụ, trong khi người đọc vẫn hiểu thơ, thuộc thơ của Virgil, La Fontaine, Musset thì người ta vẫn thấu hiểu Apollinaire, Aragon và rất nhiều nhà thơ tượng trưng, siêu thực khác. Nhân loại vẫn xếp Neruda, Aragon , Lorca bên cạnh Hikmet, Nezval trong 10 nhà thơ lớn của thế kỷ XX

Tuy nhiên, cũng cần phải nhắc lại rằng, dể hiểu, dễ thuộc không đồng nghĩa với sự cẩu thả. Chúng ta có rất nhiều câu ca dao, dân ca rất hay, thực chất là những câu thơ theo thể thơ lục bát vừa dễ hiểu, dễ thuộc vừa sâu sắc, nhưng đó là phần còn lại sau cuộc sàng lọc lâu dài và vô cùng khốc liệt, loại bỏ hàng triệu câu ca dao, dân ca vào quên lãng. Gần 70 năm qua, đã có hàng vạn bài thơ được sáng tác và xuất bản trên báo chí và sách chủ yếu theo đường lối dễ hiểu, dễ thuộc nhưng đọng lại may ra còn mấy chục bài trong các tuyển tập và cùng với thời gian, số bài này còn ít hơn trong các tuyển tập sau. Sự dễ hiểu, dễ thuộc, nếu đấy là dễ hiểu, dễ thuộc đúng nghĩa cũng là một cuộc giằng xé, vật lộn vô cùng gian nan để vươn tới sự tinh lọc, bản chất của nghệ thuật muôn đời.

Vậy tại sao gần đây, hình thức biểu hiện lại trở thành "vấn đề" của thơ, thậm chí coi hình thức biểu hiện là cốt lõi, là lý do tồn tại của thơ? Có nhiều cách giải thích điều này. Có thể do ngây thơ, thiếu bản lĩnh, một số cây bút trẻ bị hoang mang trước những quan niệm xa lạ, kể cả những sáng tác mang dấu ấn bế tắc từ bên ngoài. Có thể vì thơ đang trong cuộc sốt vỡ da mà những suy nghĩ có phần thái quá như thơ cần khó hiểu, khó thuộc là biểu hiện có phần cực đoan của quá trình chuyển đổi này. Có thể do thiếu vốn sống, thiếu những chiêm nghiệm sâu sắc, người ta phải lấy sự  tìm tòi nặng phần hình thức để khỏa lấp những thiếu hụt. Có thể đây chẳng qua là sự hô hào trống rỗng, hét to lên cho đỡ sợ của những người bế tắc, đi mãi vào ngõ cụt ? Nhưng dù thế nào thì vẫn là một thực tế đáng buồn, sau 40 năm với rất nhiều tuyên ngôn, rất nhiều dự cảm lạc quan, nền thơ của chúng ta vẫn không nhích hơn được bao nhiêu, vẫn không có nhiều những tác phẩm "trường tồn" nếu ai đó định làm tuyển tập, vẫn thiếu những tác giả định hình vững vàng trong công chúng, hướng đi của thơ vẫn còn lờ mờ, người làm thơ và thơ ngày càng nhiều nhưng người đọc thơ ngày càng ít, thơ đang bị loại dần ra khỏi thói quen đọc sách của xã hội.

Không nên phủ nhận những gì thơ đã đạt được trong thời gian qua nhưng cũng đừng quá lạc quan về những gì đã đạt được. Gần 40 năm kể từ ngày thống nhất đất nước, trong bối cảnh bùng nổ công nghệ thông tin như vũ bão, hội nhập quốc tế ngày càng sâu sắc, những gì đã có thật quá èo uột so với điều ta mong muốn. Thế hệ thơ gần nhất với các cây bút trẻ hiện nay là thế hệ các nhà thơ lớn lên và trưởng thành trong chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Thế hệ đó, người trẻ nhất hiện nay cũng đã quá 60 tuổi, người già nhất đã vào tuổi 80. Họ sẽ "bàn giao thế hệ" cho ai? Nếu không muốn dùng cụm từ "bàn giao thế hệ" thì họ sẽ trao cho ai việc kế tục nền thơ nước Việt hiện nay, một nền thơ có quá khứ rạng rỡ và một tiềm lực dồi dào, chẳng lẽ cho những người vẫn đang đắm mình trong quan niệm "Thơ có khó hiểu mới hay, mới sang trọng" ư?

Vũ Duy Thông

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).