Từ trang giáo án đến trận tuyến bảo vệ niềm tin
Càng có dịp tiếp xúc, tôi càng nhận ra phía sau người cán bộ an ninh bản lĩnh, sắc sảo trong công việc là một tâm hồn giàu trắc ẩn, luôn đau đáu với quê hương, đồng đội và những giá trị bình dị của cuộc sống. Có lẽ chính sự chân thành ấy đã khiến câu chuyện về anh đến với tôi không chỉ như một bài viết chân dung, mà như một cuộc gặp gỡ giữa những người cùng trân trọng cái đẹp và sự tử tế.
Con đường công tác của PGS.TS Hồ Anh Tuấn gắn với giảng dạy, nghiên cứu khoa học và công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Anh từng đảm nhiệm nhiều vị trí, từ giảng dạy, quản lý đào tạo trước khi giữ cương vị Trưởng khoa An ninh chính trị nội bộ của Học viện An ninh nhân dân. Năm 2016, anh được phong học vị Tiến sĩ; năm 2021 trở thành Phó giáo sư, là một trong những Phó giáo sư trẻ của ngành Khoa học An ninh thời điểm đó. Anh chủ biên, tham gia biên soạn hơn 30 giáo trình, sách chuyên khảo, sách tham khảo; công bố hơn 100 bài báo khoa học; chủ nhiệm nhiều đề tài cấp Bộ, cấp cơ sở và tham gia các đề tài cấp Nhà nước. Những danh hiệu giảng viên dạy giỏi cấp Học viện, cấp Bộ, Thanh niên CAND xuất sắc, tiêu biểu và hai lần Chiến sĩ thi đua toàn lực lượng là những ghi nhận cho một quá trình làm nghề miệt mài và nghiêm túc. Nhưng điều anh hướng tới không chỉ là những công trình hay danh hiệu, mà là đưa tri thức từ trang sách vào thực tiễn công tác Công an và biến những vấn đề chuyên môn thành bài giảng gần gũi, đi sâu vào lòng người học.
Cùng với giảng dạy và nghiên cứu, Hồ Anh Tuấn dành nhiều tâm sức cho trận tuyến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Là Thường trực Ban Chỉ đạo 35 Đảng ủy Học viện An ninh nhân dân, thành viên Tổ chuyên gia Ban Chỉ đạo 35 Đảng ủy Chính phủ và Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, anh đã tham gia thực hiện hàng nghìn bài viết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng; đồng thời thường xuyên tập huấn, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho nhiều tỉnh, thành ủy và Công an các đơn vị, địa phương. Đó là trận tuyến không có tiếng súng nhưng đòi hỏi kiến thức, bản lĩnh và sự tỉnh táo; mỗi lập luận phải có căn cứ, mỗi câu chữ phải đủ sức thuyết phục. Những giải thưởng như Giải Đặc biệt Hội thi Báo cáo viên giỏi trong Đảng bộ Công an Trung ương năm 2019, các giải A cấp cụm và cấp Đảng bộ Công an Trung ương, Giải Nhì khu vực I và Giải Nhì toàn quốc Hội thi Báo cáo viên giỏi năm 2026 là những dấu mốc ghi nhận quá trình ấy. Tại các cuộc thi chính luận, anh cũng đoạt nhiều giải ở cấp Trung ương, Chính phủ, Hà Nội và Đảng ủy Công an Trung ương.
Nhưng giữa những trang viết chính luận sắc sảo ấy, lại có một mạch nguồn khác âm thầm chảy.
Trải lòng theo những vần thơ
Trong những năm tháng dành nhiều tâm sức cho trận tuyến tư tưởng, thơ trở thành khoảng lặng của Hồ Anh Tuấn. Nếu chính luận cần lý lẽ để thuyết phục thì thơ tìm đến cảm xúc để lay động. Anh chia sẻ: “Thơ trước hết là cuộc đời, sau mới là nghệ thuật. Người làm thơ phải biết đau cùng nỗi đau của những mảnh đời bất hạnh. Người cán bộ Công an là người “gần dân nhất”, thì sự đồng cảm và sẻ chia với những phận người chịu nhiều mất mát cũng là một cách giữ gìn hơi ấm tình người”.
Khi được hỏi điều muốn gửi gắm qua thơ, anh thường nói về tình người, về nỗi nhớ quê hương, lòng biết ơn cha mẹ. Bởi thế, có khi chỉ một câu thơ cũng đủ mở ra cả một miền cảm xúc: “Đêm nay con lại về bên mẹ/ Đốt hương tìm chút ảo ảnh hanh hao”. Hay nỗi nhọc nhằn của người mẹ hiện lên trong những câu thơ: “Ai qua miền xa vắng/ Gánh đời con phẳng lặng/ Trên cả tấm lưng còng”.
Thi thoảng đọc những vần thơ của anh, tôi có cảm giác đó là lúc Hồ Anh Tuấn được trở về với một con người khác, lặng lẽ hơn, mềm mại hơn và giàu trắc ẩn hơn. Tại cuộc thi “Xuân Mới” đầu năm 2026 do Chi hội Nhà văn Công an tổ chức, chùm ba bài thơ của anh được trao Giải Ấn tượng. Điều đáng nhớ không chỉ nằm ở một giải thưởng, mà ở cách anh đưa con người, quê hương, đất nước và hình ảnh người chiến sĩ Công an nhân dân vào thơ bằng một cái nhìn chân thành, nhân hậu. Trong mỗi bài thơ, đều có những câu chữ khiến người đọc dừng lại, không phải bởi sự cầu kỳ, mà bởi phía sau đó là một nỗi niềm đã được anh giữ trong lòng.
Trong bài “Đồng đội ơi”, sự hy sinh của người chiến sĩ được gợi lên từ những khoảng trống rất đời thường: “Bữa cơm thừa ba đôi đũa/ Phòng trực mênh mông vắng tiếng người”. Bài “Đất nước tôi” mở rộng cảm xúc đến chiều dài lịch sử qua hình ảnh: “Những linh hồn dưới đáy sông/ Là hạt giống gieo mùa độc lập”. Bài “Hồn Cao nguyên” đưa sự hy sinh về với những nhiệm vụ còn dang dở, với người mẹ già, người vợ trẻ và những đứa trẻ thiếu tiếng gọi của cha; từ mất mát, bài thơ hướng đến sự tiếp nối, người đi trước ngã xuống, người ở lại tiếp tục giữ gìn bình yên. “Người vợ trẻ, vẫn chờ anh trong từng giấc ngủ/ Đứa con thơ, khát bố gọi đêm trường”.
Hồ Anh Tuấn chia sẻ rằng mỗi một sự hy sinh thầm lặng của các cán bộ, chiến sĩ Công an, những chiến công hiển hách của toàn lực lượng đều giúp anh rung lên những rung cảm, để những tiếng thơ được bật ra như một lẽ tự nhiên. Nghề nghiệp đưa anh đến với những câu chuyện của con người, còn thơ giúp những câu chuyện ấy được lưu giữ bằng cảm xúc. Với anh, thơ còn là con đường ngắn nhất để anh trở về với những ký ức tuổi thơ. Đó là dòng sông Lam, câu ví dặm, những cơn mưa mùa hạ bất chợt, gió Lào bỏng rát, những buổi bắt rô, luống cà, hoa cải vàng bên bến sông. Và trong miền ký ức ấy luôn có gian nhà cũ, có bóng cha oằn mình gánh các con thơ, có dáng mẹ tất tả nơi góc chợ; những ký ức đó đã âm thầm trao cho anh những mạch nguồn đầu tiên để đến với thơ ca: “Thơ tôi là tiếng lòng của một người con xa quê, của một đứa trẻ trưởng thành nơi phố thị nhưng luôn khao khát được sống lại với những ký ức tuổi thơ, và của một người con day dứt về hình bóng các bậc sinh thành”.
Tôi nghĩ rằng, đó cũng là điểm gặp nhau trong con người Hồ Anh Tuấn: người cán bộ trên trận tuyến bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và người làm thơ trước những số phận con người. Một bên cần lý lẽ sắc bén để bảo vệ điều đúng; một bên cần một trái tim đủ nhạy cảm để nhận ra những điều đáng quý của cuộc đời. Với anh, đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn mà còn là trách nhiệm của mỗi cán bộ, chiến sĩ Công an. Là một giảng viên, anh hiểu rằng phía sau mỗi bài giảng không chỉ là kiến thức nghiệp vụ, mà còn là quá trình hình thành bản lĩnh và nhân cách của người chiến sĩ tương lai. Anh luôn cố gắng đưa những trải nghiệm từ thực tiễn công tác vào bài giảng để những điều tưởng như khô khan trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn với học viên. Anh luôn tâm niệm việc đứng trên bục giảng cũng là một cách tiếp tục công việc mình đã chọn: truyền lại cho thế hệ sau không chỉ nghề nghiệp, mà cả tinh thần trách nhiệm, lòng nhân ái và niềm tin vào những điều tốt đẹp.
Hồ Anh Tuấn đã đi qua những công việc của mình bằng kiến thức, bản lĩnh và trách nhiệm, nhưng phía sau sự sắc sảo của một nhà khoa học vẫn là một tâm hồn rung động. Giữa những bộn bề, anh vẫn dành một khoảng lặng cho thơ, để nhớ quê hương, nhớ đồng đội và giữ lại những điều không muốn quên. Khi một câu chuyện khiến lòng mình day dứt, anh lại viết. Và những câu thơ ấy, suy cho cùng, là một phần rất tự nhiên của người cán bộ Công an nặng lòng với quê hương, đồng đội và nhân dân.