Nhân đọc tiểu thuyết “Bão táp triều Trần” của Hoàng Quốc Hải

Huyền Trân công chúa và sứ mệnh mở cõi

Huyền Trân công chúa - bậc quốc sắc thiên hương đời nhà Trần, đảm đương sứ mệnh mở cõi vì lợi ích quốc gia đã đi vào lịch sử, trở thành huyền thoại trong dân gian và văn hóa Việt Nam đã khơi nguồn cảm hứng sáng tạo nghệ thuật cho không ít tác giả.

Nhà văn Viết Linh có tiểu thuyết "Huyền Trân công chúa" (NXB Hội Nhà văn, 2003); nhà thơ Bùi Mạnh Hảo, bút danh Tâm Minh - có tập thơ tình sử "Huyền Trân công chúa" (3.400 câu) - NXB Thanh niên, 2013; Tiến sĩ Bùi Hữu Dược có kịch bản cải lương "Ni sư Hương Tràng" diễn tại rạp Đại Nam và nhiều nơi (năm 2017)…

Huyền Trân công chúa và sứ mệnh mở cõi -0
Nhà văn Hoàng Quốc Hải.

Riêng tôi lại có ấn tượng sâu sắc với bộ tiểu thuyết lịch sử "Bão táp triều Trần" (6 tập) của nhà văn Hoàng Quốc Hải, cây bút tiểu thuyết lịch sử hàng đầu của văn học Việt Nam đương đại. Trong đó, tôi thích nhất tập 5 viết về "Huyền Trân công chúa". Ấn phẩm gồm 280 trang khổ 15,5 x 23,2cm với 28 chương, tái hiện cuộc đời của công chúa Huyền Trân với tấm lòng trân quý và cảm phục.

Huyền Trân công chúa hội tụ nữ dung, nữ trí, nữ công và đức hạnh

Huyền Trân công chúa (1287 - 1340) là con gái của Thượng hoàng Trần Nhân Tông và Quyên Thanh, trưởng nữ của Trần Hưng Đạo. Năm lên sáu tuổi mồ côi mẹ, Huyền Trân được dì ruột là Tuyên Từ nuôi dạy chu đáo. Từ nhỏ nàng đã xinh xắn, lớn lên vẻ đẹp lại càng gia tăng.

Người ta truyền rằng: Công chúa có làn da trắng mịn, dáng người mềm mại, mái tóc dài đen óng. Nổi bật là cặp mắt buồn, đen, sâu thẳm trên khuôn mặt màu hoa đào: "Đôi má nàng ửng hồng lên như một trái đào khoe mã, khẽ nhếch cặp môi chín mọng như tô son, để lộ ra hai hàm răng nhỏ, trắng muốt như những hạt ngô nếp" (tr 8).

Không chỉ đẹp về ngoại hình, công chúa còn có trí tuệ tinh anh, kiến thức sâu rộng nhờ ham học hỏi. Những trang đầu tiểu thuyết là cảnh Huyền Trân mải mê đọc sách - cuốn "Ly tao" của Khuất Nguyên, đêm đã quá khuya khiến nhũ mẫu, người nhận sự ủy thác của Thượng hoàng, kiên quyết nhắc nàng đi nghỉ, công chúa bất đắc dĩ phải vâng lời (trang 13). Thích đọc sách, say mê với đạo lý Thánh hiền, nàng từng thức trắng đêm để nghiền ngẫm cuốn "Vạn Kiếp tông bí truyền thư" của ông ngoại Trần Hưng Đạo và thấu hiểu được tư tưởng lấy dân làm gốc.

Đáng trân trọng hơn nữa, khi biết mình sẽ làm dâu đất nước láng giềng, Huyền Trân nghe lời Thái sư Trần Nhật Duật căn dặn: "Cháu về Chiêm là mang theo cả quốc hồn, quốc túy và cả quốc thể nữa" (tr 162). Nàng đã không ngại khó, ngại khổ học tiếng nói, chữ viết và tìm hiểu, nghiên cứu nền văn hóa và các phong tục Champa. Được bà vũ nữ người Chiêm - vốn là vũ nữ cung đình trước đây - truyền dạy nhiều vũ điệu, sự kiên trì và khéo léo khiến nàng có thể đội đèn múa rất tự tin. Nàng học và biết làm nhiều loại bánh của người Việt: bánh chưng, bánh dầy, bánh chè lam… Nàng cũng biết làm những món ăn và một số loại bánh truyền thống của người Chăm.

Ngay trong những ngày hôn lễ, đến với xứ sở Champa, nàng đã khiến vua Chế Mân và triều thần cùng dân chúng vô cùng bất ngờ, thích thú, cảm phục và yêu quý bởi vẻ đẹp ngoại hình tươi trẻ, dịu dàng, trí tuệ thông minh và tâm hồn trong sáng. Vẻ đẹp toàn bích và tình cảm chân thành của nàng đã khiến vua Chế Mân vô cùng yêu quý, sủng ái, luôn gọi nàng bằng danh xưng "Đóa bạch trà kiều diễm của ta". Nàng quả là tấm gương sáng về sự dấn thân vì nước, vì dân Đại Việt.

Sứ mệnh mở mang bờ cõi

Thượng hoàng Trần Nhân Tông là người có tầm nhìn xa rộng, ngài muốn thắt chặt hơn nữa mối quan hệ láng giềng Đại Việt - Chiêm Thành, một quan hệ có vai trò trọng yếu trong sự nghiệp đấu tranh chống họa xâm lăng của đế quốc Nguyên - Mông. Vì thế, trong chuyến đi du hành Champa truyền đạo Phật, được vua Chế Mân đón tiếp trọng thị và chu đáo, Thượng hoàng có ý sắp xếp cuộc hôn nhân cho công chúa Huyền Trân với nhà vua, bắc nhịp cầu của tình hòa bình và hữu nghị giữa hai nước.

Vốn thông minh, Huyền Trân ý thức được vai trò của mối quan hệ đó nên thuận tình theo sự xếp đặt của vua cha. Vua Chiêm đã dùng nhiều đồ vàng ngọc quý giá cùng hai châu Ô, Lý vuông ngàn dặm (một phần tỉnh Thừa Thiên Huế, thành phố Đà Nẵng và phía bắc tỉnh Quảng Nam ngày nay) làm sính lễ. Huyền Trân công chúa đã đặt lợi ích của dân tộc, quốc gia lên trên hạnh phúc cá nhân. Xuyên suốt tác phẩm, nhà văn Hoàng Quốc Hải miêu tả thiên tình sử của công chúa cùng vua Chế Mân lồng trong những nét đặc sắc của nền văn hóa và phong tục hai nước Champa và Đại Việt.

Những chương đầu tác phẩm, tác giả tập trung nói về phương lược ngoại giao khi đất nước hòa bình của Thượng hoàng Trần Nhân Tông và tầm nhìn xa rộng khi ngài sắp xếp cuộc hôn nhân giữa quốc vương Champa và công chúa Đại Việt bấy giờ. Trong khi nhiều quan lại ở triều đình phản đối cuộc hôn nhân này nhưng công chúa Huyền Trân đã có những suy nghĩ rất chín chắn: "Đây là việc ta tự nguyện gánh lấy chứ phụ vương và vương huynh ta không ép… Ta sẽ quyết vì phụ vương, vì nền hòa bình trường cửu của Đại Việt và Chiêm Thành mà làm tất cả những gì cần thiết" (tr. 192).

Huyền Trân công chúa và sứ mệnh mở cõi -1
Bìa tập 5 “Bão táp triều Trần - Huyền Trân công chúa” của nhà văn Hoàng Quốc Hải.

Quốc vương nước Champa cũng là một người rất xứng đôi với Huyền Trân cả về tài trí văn võ lẫn ngoại hình. Ngày hôn lễ: "Chế Mân mặc áo bào trắng, quần chẽn cũng màu trắng. Ngoài khoác áo giáp đan bằng sợi vàng. Chân nhà vua đi hia đen thêu chim thần Garuda bằng vàng. Ngang bụng thắt chiếc đai ngọc, bên hông đeo thanh bảo kiếm khắc hình đầu thần Ganesa (đầu voi mình người) dài gần quét đất" (tr 206). Tiệc mừng hôn lễ được tổ chức tưng bừng trong bảy ngày đêm. Huyền Trân Công Chúa được phong ngay là Hoàng hậu Paramecvari, được vua và mọi người yêu quý tại Chiêm Quốc.

Huyền Trân công chúa "sống không phải cho riêng mình nữa"

Sinh ra và lớn lên từ nơi cung vàng điện ngọc, nhưng công chúa Huyền Trân rất gần gũi, chan hòa và thương yêu kẻ nghèo khó, tôi tớ và người hầu hạ. Nàng không chỉ xinh đẹp mà còn làu thông kinh sách. Với tình cảm chân thành, công chúa cùng với vua Chế Mân đã được sống trong ngọt ngào hạnh phúc và cũng đã sinh hạ được hoàng tử Dada. Những tháng ngày ấy, với vốn kiến thức thông tuệ, nhiều khi nàng trò chuyện, góp ý giúp nhà vua phương thức trị quốc tốt hơn chứ không can thiệp việc triều chính.

"Từ một đời sống trong chốn khuê các, chỉ lo tu sửa đức hạnh, trau dồi lễ nghĩa, thi thư, nay vừa bước ra khỏi nhà đã phải cùng một lúc đối phó với hàng trăm việc. Việc gì cũng hệ trọng. Xảy ra một tí không mất mạng cũng mất thể diện. Mà thể diện mình lúc này là thể diện quốc gia. Trần Huyền Trân giật mình lo sợ về trọng trách lớn lao. Và nàng mơ hồ nhận ra mình sống không phải cho riêng mình nữa"

(tr 245). Thật tiếc là những cải cách tiến bộ an dân của vua Chế Mân đã đụng chạm đến quyền lợi của không ít quan lại Champa, nhất là viên tể tướng cậu của hoàng hậu Tapasi. Riêng viên sứ thần nhà Nguyên là Lý Quí đã cùng với tên tể tướng mạt hạng bày mưu kế và thực thi hạ độc Chế Mân quốc vương khi ngài đi săn cùng hai người hầu cận. Nhà vua tử nạn trong niềm đau xót và tiếc thương vô hạn của Huyền Trân công chúa, triều thần và người dân nước Champa. Cuốn tiểu thuyết khép lại là hình ảnh: Hòa thượng Minh Thái biết tin vua Chế Mân bị hạ độc đã cầm cây thiền trượng huơ lên trời viết ba chữ "Thiên vô mục" (Trời không có mắt). Ông nói với hòa thượng Du Già: "Chúng nó giết quốc vương Chế Mân, có nghĩa là nước Chiêm thành tự sát" (tr 279).

Cuộc đời cùng tình duyên của công chúa Huyền Trân là một bài ca đẹp vừa hào hùng lãng mạn vừa chan chứa bi thương. Người phụ nữ cành vàng lá ngọc, khi cần đã biết đặt lợi ích quốc gia lên trên hạnh phúc cá nhân. Chính sự hy sinh cao thượng của công chúa Huyền Trân đã giúp cho quốc gia mở rộng đất đai, lãnh thổ mà không tốn một mũi tên, một người lính. Công chúa Huyền Trân quả là tấm gương sáng về lòng trung hiếu, để lại bài học vô cùng quý giá cho hậu thế hôm nay và mai sau.

Nguyễn Thị Thiện

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).