35 trong tổng số 200 đại biểu là các học giả, chuyên gia, quan chức chính phủ trong nước và quốc tế đã tham gia thuyết trình tại 9 phiên họp, tập trung vào các chủ đề như: Những diễn biến gần đây của Biển Đông; ASEAN và Biển Đông; Quan hệ giữa các nước lớn và Biển Đông; Luật pháp quốc tế, Công ước Luật Biển 1982 và Biển Đông; Những diễn biến pháp lý gần đây và Biển Đông; Các kinh nghiệm quốc tế và khu vực trong xử lý tranh chấp biển; Đánh giá tuyên bố Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và việc thực thi DOC; Quản lý căng thẳng và tương lai của Biển Đông; Khuyến nghị chính sách và thảo luận tự do.
Thay đổi nhận thức và hành động
Phát biểu khai mạc, Đại sứ Đặng Đình Quý, Giám đốc Học viện Ngoại giao Việt Nam cho hay, 5 năm kể từ khi Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 1 được tổ chức vào tháng 11/2009, tình hình Biển Đông và những vấn đề liên quan đến Biển Đông đã có nhiều thay đổi. Đầu tiên phải kể đến sự nâng cao nhận thức của cộng đồng khu vực và quốc tế về tầm quan trọng của Biển Đông, về việc gìn giữ hòa bình, ổn định ở Biển Đông.
Đây là trách nhiệm của không chỉ các bên liên quan đến tranh chấp ở Biển Đông, mà còn là lợi ích, trách nhiệm của các nước trong cộng đồng quốc tế. Tiếp đó là sự điều chính chính sách, kiềm chế không để xảy ra xung đột của các nước liên quan trực tiếp và gián tiếp tới Biển Đông. Cơ chế hợp tác song phương và đa phương đã phát huy tác dụng trong việc kiềm chế xung đột, xử lý các vấn đề nảy sinh.
Đặc biệt, ASEAN và Trung Quốc đã có nhiều nỗ lực triển khai DOC, cùng hướng tới xây dựng một Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC) với mức độ cam kết chính trị cao; với những cơ chế kiểm soát tranh chấp, ngăn ngừa xung đột có hiệu quả…
Hiện nay, vẫn tồn tại sự khác nhau về cách diễn giải và áp dụng luật quốc tế, nhất là Công ước quốc tế về Luật Biển 1982 (UNCLOS). Rồi sự chần chừ, thiếu quyết tâm trong việc xây dựng một cơ chế hợp tác hiệu quả hơn trong quản lý tranh chấp và ngăn ngừa xung đột trên Biển Đông. GS. Carlyle A.Thayer, Trường Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học New South Wales, Học viện Quốc phòng Australia cũng đã điểm những diễn biến ở Biển Đông năm 2013 và nhấn mạnh đến sự đoàn kết của ASEAN, căng thẳng Trung Quốc – Philippines, việc tham vấn ASEAN-Trung Quốc về Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông.
Trong khi đó, GS.Koichi Sato, chuyên gia nghiên cứu châu Á thuộc Đại học J.F.Oberlin (Nhật Bản) phân tích việc theo đuổi các nguồn tài nguyên biển và cơ quan chấp pháp biển của Trung Quốc. Cung cấp thêm thông tin về việc Trung Quốc triển khai các tàu tuần tra ở Biển Đông và Biển Hoa Đông cùng phản ứng của các nước láng giềng, GS.Koichi Sato đã nhấn mạnh tầm quan trọng của phương thức giải quyết hòa bình tranh chấp, bảo vệ và gìn giữ các nguồn tài nguyên biển cho thế hệ tương lai ở Đông Á.
Quy tắc pháp lý COC
Do không tham dự được hội thảo, Tổng thư ký ASEAN Lê Lương Minh đã gửi bài phát biểu dẫn đề với sự trình bày của Phó Tổng thư ký ASEAN Nyan Lynn. Thông điệp của Tổng thư ký ASEAN Lê Lương Minh nêu rõ, ASEAN là một chủ thể có vai trò quan trọng đóng góp cho hòa bình, ổn định ở Biển Đông vì ASEAN có 8 nước ven Biển Đông, trong đó 4 nước yêu sách chủ quyền lãnh thổ tại đây.
Nếu không có hòa bình, ổn định ở Biển Đông, ASEAN khó lòng xây dựng thành công cộng đồng ASEAN. ASEAN luôn kêu gọi và thúc đẩy các bên liên quan giải quyết tranh chấp bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS. Lập trường đó của ASEAN đã được kết tinh rõ ràng trong Tuyên bố về nguyên tắc 6 điểm của ASEAN về tranh chấp Biển Đông năm 2012.
Những tranh chấp xung quanh khu vực Biển Đông đã ảnh hưởng tới an ninh, hòa bình của khu vực. Để giải quyết vấn đề này, các bên liên quan, ngoài nhận thức rõ về vấn đề Biển Đông, cần thiết phải liên tục chia sẻ lợi ích và trách nhiệm trong việc xây dựng Bộ quy tắc Ứng xử Biển Đông (COC). COC sẽ trở thành quy tắc pháp lý có tính chất ràng buộc giữa các bên liên quan cụ thể là ASEAN và Trung Quốc. Tổng thư ký Lê Lương Minh khẳng định, ASEAN sẽ tiếp tục thúc đẩy các bên thực hiện đẩy đủ, hiệu quả DOC và đẩy nhanh tiến trình đàm phán COC.
Trên thực tế, kể từ đầu thập niên 1990, các thành viên ASEAN đã mong muốn xây dựng COC dựa trên các nguyên tắc được nêu trong Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác (TAC). Nhưng mãi đến Hội nghị Bộ trưởng ASEAN 2013 tại Brunei, Trung Quốc và các quốc gia ASEAN mới đi đến thống nhất và tiến hành tham vấn về COC vào tháng 9 vừa qua. Theo TS. Raft Emmers thuộc Trường Nghiên cứu quốc tế S.Rajaratnam (RSIS) của
Và với vai trò của điều phối viên Thái Lan trong vấn đề này, 22 tháng còn lại để đến mốc thành lập Cộng đồng ASEAN 2015 có tính quyết định trong việc thiết lập một nền tảng vững chắc để ASEAN và Trung Quốc có thể tiến tới những kết quả thực chất về COC…
Các khía cạnh luật biển ở Biển Đông
Cho đến nay, các nhà khoa học đều cho rằng, hiện có hai loại khu vực tranh chấp ở Biển Đông. Thứ nhất là các tranh chấp liên quan đến chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo tại Biển Đông với không gian biển xung quanh các đảo đang có tranh chấp này. Thứ hai là tranh chấp khu vực chồng lấn EEZ và yêu sách thềm lục địa.
Khi các quốc gia tại Biển Đông muốn xác nhận phạm vi yêu sách biển và thực thi các quyền chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển khác nhau thì họ bắt buộc phải cải thiện năng lực để có thể thực hiện các quy định và thực thi pháp luật trên biển. GS. Donald R.Rothwell, chuyên gia về luật quốc tế và là Trưởng khoa tại Trường Cao đẳng Luật ANU, Đại học Quốc gia Australia khẳng định, UNCLOS tái khẳng định quyền và việc các quốc gia ven biển có thể thực hiện các quy định và thực thi pháp luật trên biển trong các vùng biển được công nhận của họ, và trong một vài vụ việc nhất định tại các khu vực biển khác khi thực hiện việc truy đuổi vượt quá giới hạn Vùng đặc quyền kinh tế.
Tuy nhiên, những quyền trên của các quốc gia ven biển cần phải được cân đối với các nguyên tắc tự do hàng hải của các tàu nước ngoài và những hạn chế khác tồn tại trong luật biển như những gì được ghi tại Điều 73 và phần VII. Bài tham luận sẽ giải quyết vấn đề này bằng việc xem xét các điều khoản phù hợp trong UNCLOS, bằng việc đánh giá thực tiễn chung của các quốc gia và qua các sự cố cụ thể đã xảy ra trên Biển Đông