Tuy nhiên, Luật Bưu chính năm 2010 được ban hành trong bối cảnh thị trường quy mô nhỏ đã tạo ra những "vùng xám" pháp lý, gây khó khăn cho doanh nghiệp và làm tăng chi phí logistics của nền kinh tế.
Thực tế thị trường 15 năm qua đã nảy sinh nhiều mô hình dịch vụ mới nằm ở vùng giao thoa giữa bưu chính và logistics. Trong khi bưu chính truyền thống tập trung vào 4 công đoạn gồm chấp nhận, chia chọn, vận chuyển và phát bưu gửi. Thì logistics có phạm vi rộng lớn hơn gồm lưu kho, quản lý tồn kho, đóng gói, xử lý đơn hàng, gom tách hàng, vận tải và phân phối.
Sự xuất hiện của các công đoạn giao thoa như kho xử lý đơn hàng, trung tâm chia chọn tự động, điểm nhận hàng tự động, dịch vụ logistics "nhẹ" và quản lý hàng hoàn phát triển rất mạnh. Điều này dẫn đến hệ lụy của việc thiếu phân định ranh giới. Nếu không xác định rõ ranh giới, doanh nghiệp sẽ lúng túng trong việc áp dụng điều kiện kinh doanh, xác định nghĩa vụ pháp lý và cơ chế quản lý cho từng công đoạn.
Cùng đó, quản lý quá rộng sẽ tạo thêm rào cản, làm gia tăng chi phí tuân thủ; ngược lại, quản lý quá lỏng sẽ bỏ trống việc bảo đảm an toàn bưu gửi, bảo vệ dữ liệu cá nhân, truy xuất nguồn gốc hàng hóa và phòng chống hàng cấm.
Từ những bất cập trên, theo đơn vị xây dựng luật, Dự thảo Luật Bưu chính (sửa đổi) tiếp cận theo bản chất hoạt động. Xác định dịch vụ bưu chính bao gồm chấp nhận, chia chọn, vận chuyển, phát và các công đoạn gắn trực tiếp với bưu gửi (lưu kho, xử lý đơn hàng, đóng gói, hoàn trả); đồng thời loại trừ các hoạt động vận tải, kho bãi và logistics độc lập. Cách làm này phân định dựa trên mối liên hệ trực tiếp với bưu gửi chứ không mở rộng khái niệm bưu chính một cách cơ học.
Kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển cho thấy xu hướng hội tụ giữa bưu chính, logistics và thương mại điện tử là tất yếu. Cụ thể, mô hình Japan Post (Nhật Bản) không dừng lại ở bưu chính truyền thống mà phát triển thành nhà cung cấp giải pháp logistics toàn diện từ thiết kế, xây dựng đến vận hành chuỗi cung ứng. Họ hợp tác với sàn thương mại điện tử Rakuten để xây dựng các trung tâm logistics và hệ thống giao hàng dùng chung. Hay như mô hình SingPost định vị là doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính và logistics thương mại điện tử xuyên biên giới. Hệ sinh thái của họ tích hợp kho bãi, phân loại tự động tập trung và giao hàng chặng cuối.
Từ kinh nghiệm của các nước, có thể rút ra bài học ngành bưu chính Việt Nam, đó là khái niệm bưu chính không bị chia cắt cứng nhắc khỏi logistics. Nhà nước quy định rõ trách nhiệm pháp lý cho từng mắt xích nhưng tạo dư địa tối đa để doanh nghiệp tích hợp dịch vụ, đầu tư công nghệ và tối ưu hóa hạ tầng. Cùng đó kết nối dòng chảy vật chất với dòng chảy dữ liệu. Trong kinh tế số, mỗi gói hàng không chỉ là một kiện hàng vật lý mà còn là một điểm dữ liệu.
Một khung pháp lý minh bạch sẽ thúc đẩy doanh nghiệp mạnh dạn rót vốn đầu tư vào hệ thống kho thông minh, trung tâm chia chọn tự động hóa, công nghệ dữ liệu lớn và mạng lưới giao nhận tối ưu. Việc sửa đổi Luật đáp ứng trực tiếp tinh thần Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân (tháo gỡ rào cản, nâng cao năng lực cạnh tranh) và Quyết định 2229/QĐ-TTg ngày 09/10/2025 phê duyệt Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025–2035, tầm nhìn 2050.
Đồng thời, quản lý thông minh bằng dữ liệu, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, gắn mã nhận dạng duy nhất cho từng bưu gửi giúp theo dõi xuyên suốt từ khâu tiếp nhận đến khi giao thành công. Phương thức này giúp cơ quan nhà nước kiểm soát rủi ro hiệu quả mà không làm gián đoạn dòng chảy hàng hóa.
Sửa đổi Luật Bưu chính 2010 không đơn thuần là việc cập nhật một văn bản luật chuyên ngành sau 15 năm thực thi. Đây là cơ hội chiến lược để tái thiết kế thể chế cho hạ tầng bưu chính - logistics, tháo gỡ các "điểm nghẽn" giao thoa, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp, từ đó nâng cao sức cạnh tranh chung của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.