Gần 2 tháng qua, cùng với hành động hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Trung Quốc đã liên tục đưa ra những quan điểm và luận cứ yêu sách về chủ quyền của nước này trên biển Đông.
Tuy nhiên, những luận điệu này đã bị chính giới và học giả quốc tế vạch trần là trái với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, luật biển quốc tế và trái với những quy định cơ bản của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS).
Trong hội thảo về biển Đông được tổ chức tại Học viện Ngoại giao Áo hôm 16/6, các đại biểu tham dự cũng đã nhấn mạnh rằng, Việt Nam có đầy đủ các tài liệu lịch sử và chứng cứ quan trọng chứng minh chủ quyền của nước này tại hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Các tư liệu lịch sử khách quan
Theo luật pháp quốc tế, việc chiếm đóng bằng vũ lực lãnh thổ của một quốc gia có chủ quyền là hành vi phi pháp, không đem lại chủ quyền cho quốc gia đi chiếm đóng. Tuy nhiên, trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của Việt Nam, Trung Quốc đã không ít lần sử dụng chiêu bài này. Nhưng theo TS Alfred Gerstl, chuyên gia tại Viện Khoa học Đông Á thuộc Đại học Vienna (Áo), tất cả các luận cứ, luận điệu do Trung Quốc đưa ra để chứng minh Hoàng Sa, Trường Sa là của Trung Quốc, vùng biển nằm trong “đường chín đoạn” thuộc Trung Quốc đều là ngụy biện và không thể phủ nhận sự thực lịch sử: Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam.
Tại hội thảo về biển Đông được tổ chức tại Học viện Ngoại giao Áo hôm 16/6, TS Alfred Gerstl đã nhấn mạnh, Việt Nam tuyên bố chủ quyền của mình ngoài cơ sở pháp lý của UNCLOS, còn dựa trên căn cứ có từ thời vua Lê Thánh Tông 1460 -1497, sau đó được Pháp khẳng định lại năm 1884. Thư viện quốc gia Áo hiện cũng có giữ tài liệu cổ nói về vấn đề này.
Trên thực tế, Việt Nam từng nhiều lần công khai bằng chứng xác thực cho thấy nhà nước phong kiến Việt Nam đã thiết lập chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa từ khi quần đảo này còn là lãnh thổ vô chủ và được ghi nhận trong các châu bản của triều đình phong kiến hiện đang được lưu giữ.
Sau khi Pháp ký hiệp định bảo hộ năm 1874-1884, Pháp tuyên bố hoạt động xâm phạm, tiến hành nhiều biện pháp thực thi bảo vệ chủ quyền như xây dựng các công trình, trạm khí tượng, xây dựng cơ sở hành chính và sáp nhập vào Trung Kỳ, cấp giấy khai sinh cho công dân Việt Nam sinh tại Hoàng Sa…
Sau chiến tranh thế giới lần 2, Nhật Bản phải từ bỏ tất cả các lãnh thổ đã chiếm đóng bằng vũ lực trong chiến tranh thế giới lần thứ 2, trong đó có quần đảo Hoàng Sa.
Tuyên bố Cairo năm 1943, Potsdam năm 1945 và Hiệp định San Francisco năm 1951 đã liệt kê tất cả các vùng lãnh thổ Nhật Bản phải hoàn trả cho Trung Quốc nhưng không bao gồm Hoàng Sa và Trường Sa. Đáng chú ý, chính quyền Tưởng Giới Thạch đã tham gia quá trình thảo luận ra Tuyên bố Cairo, Potsdam mà không đề cập đến Hoàng Sa, Trường Sa.
Tại Hội nghị San Francisco, đề nghị về việc điều chỉnh dự thảo Hiệp định để ghi nhận quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc đã bị bác bỏ bởi 46/51 phiếu. Trong khi đó, phát biểu của ông Trần Văn Hữu, Thủ tướng, Trưởng phái đoàn quốc gia Việt Nam tham dự Hội nghị đã tái khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa mà không gặp phải bất cử sự phản đối nào tại Hội nghị.
Những vi phạm của Trung Quốc
Bất chấp sự không công nhận của cộng đồng quốc tế, Trung Quốc vẫn cố tình đưa ra các tư liệu lịch sử không có nguồn gốc rõ ràng, không chính xác và được diễn giải một cách tùy tiện, không nhất quán để chứng tỏ chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa. Thậm chí, nước này còn liên tục sử dụng vũ lực để chiếm đóng. Chẳng hạn, năm 1909, Đô đốc Quảng Đông Lý Chuẩn tiến hành hành động thám hiểm, thăm dò ở Hoàng Sa và bị Pháp phản đối. Năm 1946, chính quyền Tưởng Giới Thạch lợi dụng bối cảnh chiến tranh thế giới thứ II kết thúc đã xâm nhập trái phép đảo Phú Lâm và bị Pháp phản đối. Sau đó, chính quyền Tưởng Giới Thạch đã rút khỏi Phú Lâm. Đến năm 1956, lợi dụng lúc Pháp rút khỏi Đông Dương, Trung Quốc tiếp tục xâm chiếm nhóm đảo phía Đông của Hoàng Sa. Năm 1959, một nhóm binh lính Trung Quốc giả danh ngư dân đột kích nhóm đảo phía Tây của Hoàng Sa nhưng đã bị chính quyền Việt Nam Cộng hòa đập tan. Cả 2 hành động diễn ra sau khi Việt Nam tái khẳng định chủ quyền tại Hội nghị San Francisco. Tới năm 1974, lợi dụng chiến tranh, Trung Quốc tấn công giành kiểm soát Hoàng Sa từ chính quyền miền Nam Việt Nam. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã kịch liệt phản đối hành động xâm lược này của Trung Quốc. Một sự thật hiển nhiên là cho đến năm 1988 chưa hề có bất kỳ sự hiện diện nào của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa.
Ngày 14/3/1988, Trung Quốc bắt đầu dùng vũ lực chiếm đóng trái phép một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Hành động sử dụng vũ lực giành chủ quyền quốc gia khác là vi phạm luật pháp quốc tế, không tạo nên chủ quyền cho Trung Quốc.
Và ứng xử hòa bình của Việt Nam
TS Alfred Gerstl cho rằng, trong mối quan hệ với Trung Quốc, đặc biệt là sự kiện nước này hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương 981 trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam, Việt Nam đã có cách hành xử khôn ngoan và kiềm chế. Trong một tuyên bố của Viện Văn hóa Chile - Việt Nam được gửi tới Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam hồi trung tuần tháng 6, Chủ tịch Viện Văn hóa Chile-Việt Nam Patricia Abarzua Munoz không những lên án hành động của Trung Quốc xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế và đe dọa nghiêm trọng hòa bình, ổn định ở khu vực và quốc tế, mà còn hoan nghênh hướng giải quyết vụ việc mà Việt Nam đang tiến hành.
| Cho đến nay, mặc dù do hoàn cảnh chiến tranh liên tục nên nhiều thư tịch cổ của Việt Nam đã bị mất mát, thất lạc, nhưng các bằng chứng lịch sử mà Việt Nam đã thu thập được rất phong phú và đủ để khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Một là, các bản đồ Việt Nam thế kỷ XVII đã gọi hai quần đảo bằng cái tên Bãi Cát Vàng và ghi vào địa hạt huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi. Hai là, nhiều tài liệu cổ của Việt Nam đều nói về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như là Bãi Cát Vàng vạn dặm trên biển Đông và việc Nhà nước cử đội Hoàng Sa ra khai thác các quần đảo này. Ba là, nhiều sách cổ, bản đồ cổ của nước ngoài cũng thể hiện các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Đỉnh cao nhất của việc tuyên bố và xác lập chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là vào năm 1816 khi vua Gia Long sai quân lính ra quần đảo Hoàng Sa cắm cờ Việt Nam và tuyên bố chủ quyền. Trên thực tế, các chúa Nguyễn cũng như nhà Nguyễn sau này đều có nhiều hành động liên tục cử người ra cai quản, khai thác các đảo trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhà nước phong kiến Việt Nam đã tổ chức các đội Hoàng Sa, Bắc Hải để thực thi quyền chủ quyền và khai thác hai quần đảo. Các đội này được duy trì và hoạt động liên tục từ thời chúa Nguyễn (1558-1783) đến nhà Tây Sơn (1786-1802) và nhà Nguyễn. |