Gió quả phụ dịu dàng
rời khỏi vòng tay của bình minh và cỏ
căng nhịp thở
sau nhiều ân ái sau đêmNhững đám mây áo xống ném lên trời
cả thỏi son-
vừng dương
cả kem xoa mặt-
vừng trăng ngát thơm mười bốnGió quả phụ sau mỗi lần trang điểm
ngoái lại sau lưng thêm một nỗi buồn vuiCỏ
và bình minh run lên
ly biệt với gió sau nhiều ân ái
sau đêm...Gió trầm ca- gió
đấy là tóc của người đàn bà chết bom trong thành phố
đấy là tóc của người đàn bà góa bụa nuôi con
sau chiến tranh, đã qua được mười năm...
Người đem đến cho gió "giới tính" - mà tôi thường nhớ tới trong thơ hiện đại là Tản Đà (Sóng sông ai vỗ? Cây đồi ai rung?/ Phải rằng dì gió hay không/ Phong tình đem thói lạ lùng trêu ai), và người biến nó thành vật có thể "sở hữu" được, là Nguyễn Duy (ngọn gió nhà ai thấp thoáng ở bên đồi)... Lê Thị Mây chỉ tỏ ra bạo dạn hơn khi chị khoác lên nó một đời sống tình cảm, một tấm áo số phận - cái số phận bất hạnh mà trăm ngàn người đàn bà Việt Nam trên mảnh đất này phải gánh chịu trong cuộc chiến gian khổ, ác liệt vừa qua! Mấy chữ "gió quả phụ" có cái hay thật khó giải thích nhưng ai cũng có thể cảm nhận được... Tâm hồn nghệ sĩ rất đỗi tinh nhạy đã giúp cho các tác giả từ nghe (tiếng gió trầm ca) mà nhìn ra được; và từ cảm giác, chị đẩy lên thành biểu tượng, cảm hóa được tâm linh người đọc:
gió- đấy là tóc của những người đàn bà chết bom trong thành phố
đấy là tóc của người đàn bà góa bụa nuôi con...
Có được biểu tượng (nhất là biểu tượng giàu tính sáng tạo như vậy), tác giả tập trung vào việc xây dựng bối cảnh... Tất cả những chi tiết xuất hiện như những vật dụng: đám mây (áo xống), mặt trời (thỏi son), mặt trăng (kem xoa mặt) nhằm tôn tạo, "trang điểm" cho sắc đẹp của "người đàn bà - biểu tượng gió" này. Cái giỏi của tác giả là với ngần ấy "thứ" quen thuộc, chị vẫn có cách nhìn mới mẻ, thể hiện một khả năng tưởng tượng dồi dào.
Bám sát kỹ từng câu, ta còn nhận thêm ra một điều: Mở đầu gió là người, là một quả phụ (rời khỏi vòng tay của bình minh và cỏ... ). Thậm chí còn là một người đàn bà với đầy đủ các bộ phận cơ thể và những ham muốn, dáng điệu thời xuân sắc (Gió quả phụ sau mỗi lần trang điểm/ ngoái lại sau lưng...). Thế nhưng đến cuối bài thì gió chỉ còn là tóc, là mái tóc xõa xượi của người đàn bà chết bom trong thành phố, hay mái tóc chít khăn thờ chồng của người đàn bà góa bụa, thầm lặng nuôi con... Phải chăng tác giả vì tham chi tiết, đã lạm dụng óc tưởng tượng, làm cho bài thơ chồng chéo các liên tưởng, phương hại đến tính chỉnh thể của biểu tượng và gây nên sự lộn xộn trong tiếp nhận của độc giả? Không phải vậy. Bài thơ có 5 khổ thì cuối khổ thứ 4 là dấu ba chấm, chia trước và sau nó thành hai giai đoạn: yên bình - chiến tranh, đoàn viên - tang tóc!...
Thực tế luôn cho thấy: viết về "sự chết", muốn người đọc xúc động, không gì bằng trước đó - nói nhiều về sự sống. Bài thơ của Lê Thị Mây có đến 8/10 sự sống, cho nên 2/10 "sự chết" còn lại làm người đọc thương cảm. Chiến tranh thật nặng nề, kinh khủng! Nó đã xóa đi tất cả, làm tan nát tất cả! Khi xưa, trong "Em ơi... Ba Lan", Tố Hữu từng viết: "Những mái tóc vàng tơ đóng bó/ Dệt thành chăn rợn bóng oan hồn! ". Đọc mấy câu kết của Lê Thị Mây, thú thật, tôi cũng thấy (nhiều lúc) chờn vờn cái cảm giác "oan hồn" này. Thì ra, chiến tranh không chỉ là món nợ của những người đã chết, mà còn là gánh nặng đối với những người đang sống. Đó cũng chính là nỗi ám ảnh mà tôi cảm nhận được, từ bài thơ của Lê Thị Mây