Đọc để tin và yêu thêm đất nước mình

Nhân đọc "Huyền thoại Kim Thiếp Vũ Môn", tiểu thuyết của Thâm Giang Trần Gia Ninh, Nhà xuất bản Văn học, năm 2015

Một lần, trong bữa tiệc với những người quen và cả những người chưa quen, tôi được sắp xếp ngồi gần một tiến sĩ khoa học chuyên ngành vật lý - ông xin được giấu tên. Tuy là cùng quê nhưng lần đầu gặp, ông lại là một trong số ít nhà khoa học vật lý tốp đầu của nước ta hiện nay, tuổi cũng đã cao nên dù ngồi gần nhưng chúng tôi chỉ dừng lại ở những câu chuyện xã giao. Sau buổi tiệc, ông hứa sẽ đưa đến tận cơ quan tặng tôi một cuốn sách của ông vừa mới xuất bản.

Tôi không hào hứng cho lắm vì nói thật là ngày đi học, tôi không được sáng dạ ở môn vật lý. Đến hẹn, ông đã làm tôi ngạc nhiên vì cuốn sách ông tặng không phải sách viết về vật lý mà là một cuốn tiểu thuyết lịch sử có tên "Huyền thoại Kim Thiếp Vũ Môn".

Trao sách cho tôi, ông bảo: "Đọc cho vui". Và tôi đã mất gần một tháng trời "cho vui" để đọc hết cuốn sách của ông dù nó chỉ có độ dày vỏn vẹn 432 trang in. Khi đọc cuốn sách của ông, tôi có một cảm giác vừa lạ vừa quen, những địa danh, những câu chuyện, huyền tích… trong cuốn sách, phần nhiều hiện nay vẫn đang còn lưu dấu trên miền quê Hương Sơn, Hương Khê nói riêng và vùng xứ Nghệ nói chung.

Tiểu thuyết “Huyền thoại Kim Thiếp Vũ Môn” NXB Văn Học, năm 2015.
Tiểu thuyết “Huyền thoại Kim Thiếp Vũ Môn” NXB Văn Học, năm 2015.

Tôi đã đọc được "nguyên bản" những từ địa phương cổ mà ông sử dụng trong cuốn tiểu thuyết. Tôi đọc cuốn tiểu thuyết trong tâm thế của một người con đi xa lâu ngày nhớ quê và tâm trạng của một người lính trong tình hình biển đảo nước nhà đang bị các thế lực bành trướng lăm le xâm chiếm. Đọc sách và thêm một lần nữa tin như tin rằng nếu có biến thì chúng ta vẫn sẽ chiến thắng như cách đây 600 năm, Lê Lợi và Nghĩa quân Lam Sơn đã chiến thắng giặc Minh xâm lược. Cuốn sách của ông cũng xoay quanh những chuyện đó. Nếu "Bình Ngô đại cáo" của Nguyễn Trãi là bản "Thiên cổ hùng văn" trình bày tóm tắt về đường lối, sách lược, những khó khăn gian khổ, những chiến công lớn… trong mười năm kháng chiến của cuộc Khởi nghĩa Lam Sơn thì tiểu thuyết "Huyền thoại Kim Thiếp Vũ Môn" của Thâm Giang Trần Gia Ninh là cuốn sách bổ sung, lý giải, cắt nghĩa và làm sáng tỏ thêm về chiến thắng và lý do chiến thắng của Nghĩa quân Lam Sơn do Lê Lợi khởi xướng.

"Bình Ngô đại cáo" Nguyễn Trãi dừng lại ở chiến thắng của Nghĩa quân Lam Sơn, còn "Huyền thoại Kim Thiếp Vũ Môn" Thâm Giang Trần Gia Ninh viết tiếp phần bi kịch của những quan đại thần khi đất nước ca khúc khải hoàn như Nguyễn Chích, Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, Nguyễn Trãi, Nguyễn Tuấn Thiện… Tất nhiên "Bình Ngô đại cáo" và "Kim thiếp Vũ Môn" được thể hiện với hai thể loại văn học khác nhau nên yêu cầu người đọc, người thưởng thức cũng phải đọc, phải thưởng thức theo đúng tinh thần của thể loại mà người viết thể hiện.

Huyền thoại Kim Thiếp Vũ Môn - Sắt thép ở Vũ Môn làm ra Hỏa súng của người Việt - còn người Trung Quốc đời nhà Minh gọi Hỏa súng của người Việt là Thần Cơ Thương (súng thần). Nhân tài, tinh hoa đất Việt và chính nghĩa của một dân tộc yêu hòa bình nhưng cũng là một dân tộc biết làm ra nỏ thần và súng thần. Nếu thời Thục Phán An Dương Vương (khoảng 208 TCN đến 179 TCN), Triệu Đà đã dùng mưu kế kết tình thông gia để đánh cắp bí mật quân sự và vô hiệu hóa nỏ thần, Thục Phán thua trận đã cùng con gái yêu tuẫn tiết ở đất Diễn Châu, Nghệ An thì đến đời nhà Hồ: "… chính sự phiền hà/ Để trong nước lòng dân oán hận" (Bình Ngô đại cáo - Nguyễn Trãi), nhà Minh xua quân sang đánh nước ta, dù đã có Hỏa súng nhưng không được lòng dân, cha con Hồ Quý Ly cũng đành thua trận, bỏ chạy đến vùng biển Thiên Cầm, Hà Tĩnh. Khi thế cùng lực kiệt trung thần đã khuyên vua nên tự sát để bảo toàn danh dự, Hồ Quý Ly không những không nghe mà còn rút gươm ra chém chết trung thần và đang tâm đưa tay chịu trói. Hồ Nguyên Trừng vì chữ hiếu với cha đã phải dâng bí quyết chế tạo Hỏa súng - Thần Cơ Thương cho nhà Minh. Hỏa súng - Thần Cơ Thương là một loại súng gọn, nhẹ, có thể di chuyển linh hoạt khi tác chiến. Vật liệu cần nhất để chế súng là sắt mềm (nhuyễn thiết), tức là sắt ít carbon. Người Việt luyện được sắt này nhờ tìm ra bí quyết sử dụng than có nhiệt lượng của gỗ quý rừng Trường Sơn để nâng nhiệt độ lò nung lên cao, cùng quặng sắt ở xứ Nghệ và phụ gia tốt, đặc biệt là có chứa các nguyên tố vi lượng (như Mo) của Hoan Châu.

Cùng thời điểm đó, người Trung Hoa chỉ luyện được sắt cứng (như gang, là sắt chứa nhiều carbon và tạp chất). Từ khi có Thần Cơ Thương, quân nhà Minh ngày càng mạnh và qua các cuộc chiến chinh với người Tatar, bí quyết chế súng Thần Cơ Thương mới bị rò rỉ sang phương Tây. Vào nửa cuối thế kỷ XV, người Ottoman rồi người Bồ Đào Nha mới học được cách chế tạo súng hỏa mai (matchlock musket). Bằng chứng hùng hồn nhất về sự kiện này là mỗi khi quân đội nhà Minh tế súng đều phải tế Hồ Nguyên Trừng trước, vì Hồ Nguyên Trừng là cha đẻ của súng Thần Cơ Thương. Sau này Hà Ất và Nguyễn Tuấn Thiện ở Cốc Sơn cũng đã chế tạo được súng Thần Cơ Thương, đó là bước ngoặt lớn về quân sự trong cuộc kháng chiến mười năm của Nghĩa quân Lam Sơn. Đến cuộc khởi nghĩa Hương Khê, từ mẫu súng của Pháp, Tướng quân Cao Thắng chế tạo ra súng kiểu Pháp. 

Là một nhà khoa học về lĩnh vực vật lý, nhưng là một người con họ Trần dòng dõi của họ Trần Gia Phố nổi tiếng khắp xứ Nghệ. Thâm Giang Trần Gia Ninh giỏi chữ Nôm, chữ Nho và với vốn tiếng Trung, tiếng Anh thành thạo, ông đã dựa vào gia phả, thần phả, cùng sử liệu của chính nhà Minh, ông tìm đọc các sử liệu của các học giả phương Tây để nhằm đưa người đọc đến gần với sự thật lịch sử nhất.

Như trên đã viết, đây là một cuốn tiểu thuyết lịch sử nên không thể không có những hư cấu và sự áp đặt chủ quan của người viết lên từng trang sách. Nhưng dù có hư cấu nhiều hay ít thì cũng cần phải dựa vào lịch sử và có tính logic, những ràng buộc của thể loại. Tôi đọc cuốn tiểu thuyết "Huyền thoại Kim thiếp Vũ Môn" và đã bị Thâm Giang Trần Gia Ninh thuyết phục qua từng trang sách, sau từng sự kiện. Có thể còn có nhiều người không đồng tình với những hư cấu trong cuốn sách, chẳng hạn như Trần Gia Ninh đã xây dựng một mối tình đẹp giữa tướng quân Nguyễn Tuấn Thiện và quận chúa Huy Chân - sau này là vợ vua Lê Lợi.

Như chúng ta đã biết, năm 1425, khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (Thanh Hóa) chống giặc Minh gặp khó khăn, vua Lê Lợi đã quyết định kéo quân di chuyển vào vùng đất Đỗ Gia (tức Hương Sơn, Hà Tĩnh ngày nay) để lập căn cứ. Tại đây Lê Lợi đã gặp nghĩa quân Cốc Sơn của Nguyễn Tuấn Thiện vốn đang làm chủ toàn bộ vùng đất Đỗ Gia. Tuy mới gặp nhau lần đầu nhưng hai người lại có chung một chí hướng, kết nghĩa anh em. Lê Lợi và Nguyễn Tuấn Thiện đã cùng nhau giết con ngựa trắng lấy máu uống, cắt tóc thề ngay dưới gốc cây thị cổ (tạm gọi đây là phần chính sử). Từ chính sử đó Trần Gia Ninh đã xây dựng lên mối tình tay ba của Lê Lợi - Huy Chân - Tuấn Thiện.

Có người sẽ không đồng tình với chi tiết này bởi có chuyện kể về Hoàng Hậu Bạch Ngọc ở Đỗ Gia. Nhưng thực chất chuyện ấy chỉ được các học giả Việt Nam biết đến nhờ công sưu tầm của người Pháp - Giáo Sư H. Bretton, Hiệu trưởng Quốc học Vinh, công bố năm 1928 qua khảo cổ thực địa và gia phả, thần phả, lời kể… trên tạp chí Đô thành hiếu cổ (tiếng Pháp). Hiện nay các gia phả, thần phả thành văn cũng không còn.

Trong tiếng Pháp thì Công chúa, Quận chúa đều ghi là Princesse, cho nên không rõ khi nghe kể hay ghi lại là công chúa hay quận chúa Huy Chân thì Bretton đều viết là Princesse. Nếu là công chúa thì Huy Chân muộn nhất phải sinh năm 1378 hơn Lê Lợi 5,6 tuổi, khó mà làm xiêu lòng Lê Lợi. Công chúa lúc gặp Lê Lợi đã 47 - 48 tuổi rồi, khó mà có con lần đầu là Công chúa Trang Từ - tức Lê Thị Ngọc Châu - để sau này là vợ của tướng quân Bùi Ban, con dâu của tướng quân Bùi Bị. Cho nên tác giả mới ngả về khả năng Huy Chân là cháu của Hoàng hậu Bạch Ngọc thì mới logic với việc lấy Lê Lợi làm chồng và trước đó đã có tình yêu với tướng quân Nguyễn Tuấn Thiện (tương đương tuổi). Tuy nhiên, nhân vật quận chúa Huy Chân cũng như các nhân vật Tiểu Kiều, Đại Kiều, hay Tôn Phu Nhân nhiều phần hư cấu trong Tam Quốc diễn nghĩa vậy.

Còn có thuyết nói rằng Vua Trần Dụ Tông mê mẩn cô gái ở Tri Bản mà cưới làm vợ, phong làm Hoàng Hậu thì còn đáng ngờ hơn. Sử thì chỉ chép là Duệ Tông lấy con gái Trần Liêu làm phi. Vậy thì viên quan Trần Liêu lấy con gái Tri Bản sinh ra Trần Thị Ngọc Hào là hợp lý hơn. Tri Bản là quê ngoại của Trần Thị Ngọc Hào - Bạch Ngọc như trong truyện nói có lẽ logic hơn và hợp với chính sử hơn. Hay như nhân vật Phan Liêu, Nguyễn Biểu… cũng còn lắm tranh cãi.

Sở dĩ có những chuyện đó cũng là do thâm ý của các triều đại phong kiến phương Bắc. Mỗi đạo quân trước khi xuất chinh sang xâm chiếm nước ta đều phải thuộc nằm lòng chỉ dụ: "Một khi binh lính vào nước Nam, trừ các sách kinh và bản in của đạo Phật, đạo Lão thì không thiêu hủy; ngoài ra mọi sách vở văn tự, cho đến những loại sách ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ, như loại sách có câu "Thượng đại nhân, khưu ất dĩ", một mảnh, một chữ đều phải đốt hết. Khắp trong nước phàm những bia do Trung Quốc dựng từ xưa đến nay thì phải giữ gìn cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá sạch hết thảy, một mảnh, một chữ chớ để còn" (Vua nhà Minh)

Chính vì thâm ý đó của người phương Bắc mà nay sử của nước ta còn có nhiều điều khuất lấp, nhiều vỉa quặng của ông cha để lại người đời sau chưa biết để khai phá. Thâm Giang Trần Gia Ninh bằng sở học và tâm huyết của mình, đã đưa người đọc đến sát với lịch sử đất nước và tự hào hơn về dòng dõi con cháu Lạc Hồng. Tôi nghĩ đây là một cuốn sách rất đáng đọc.

Nguyễn Thế Hùng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).