Đóa xuân giữa miền xanh thẳm

Bạn văn nhắc, lên biên giới đi, hoa rừng đã thơm đến từng khe núi... Những thiếu nữ vừa giặt vải bên suối, vừa ríu rít đùa giỡn, khách lạ chợt nhận ra, mắt đàn bà con gái miền này thật đẹp. Mỗi lần lên mạn ngược, hễ gặp dòng sông, con suối như thế, thể nào tôi cũng dõi mắt tìm hoa mộc miên. Dường như, chỉ giữa đại ngàn, muôn màu hoa đỏ mới đạt đến độ sắc nét, hư ảo, hệt ai đó cầm cọ vẩy lên tấm toan xanh thẳm.

Anh bạn đồng nghiệp, cũng là "thổ địa" vùng này nhận nhiệm vụ chở tôi du xuân bằng xe máy. Dọc đường, tôi nhắc tên những loài hoa trong tác phẩm của các bạn văn, nhờ anh chỉ giúp. Nào "Rừng mã sa hoa đỏ" của nhà văn Nguyễn Xuân Thủy, "Đồi lau sau hoa tím" của nhà văn Nguyễn Phú… Anh bạn cười, giọng rủ rà rủ rỉ: "Mình ở biên giới bao năm, hoa tím hoa đỏ thì ngút ngàn, nhưng mã sa với lau sau thì tịnh chưa được biết. Có lẽ các nhà văn gọi theo tiếng phiên âm từ ngôn ngữ của bà con dân tộc, hoặc biết đâu, họ sáng tạo thêm…".

Nói đoạn, anh dừng xe, chỉ về phía một vạt đồi màu tím nhạt. Hoa lau đấy. Nhưng là loài lau tím. Không phải "chập chờn lau trắng trong tay" như nhạc Trịnh đâu. Ấy có khi là "lau sau hoa tím" chăng? Chiếc xe lại băng băng, bỏ lại sau lưng vạt đồi đang tím dần trong sương sớm. Trước mắt chúng tôi, cạnh dòng chảy xanh lơ, mảnh mai như sợi chỉ dưới bóng rừng già đang loáng thoáng màu mây. Bức tranh thật hoàn hảo và kì diệu.

untitled-17.jpg -0
Mùa xuân ở cực Bắc Tổ quốc

Tôi đi nhiều nơi, và biết bao mùa hoa trượt trôi vào hoài niệm. Riêng mùa hoa xuân bừng sáng núi rừng thì lúc nào cũng một cảm giác như tất thảy mới vừa nở ra, nguyên sơ tựa mây ngàn. Giữa mùa xuân biên giới, tôi cứ thích đứng dưới gốc những cây mận mốc thếch địa y, mở ra trước mặt là ruộng đồng, sau lưng là nhà sàn, và gió, cơ man gió thổi qua từng tán cây ràn rạt, lao xao... Mận đang đơm hoa, bật chồi, cuống quýt chạy đua với rét mướt và sương muối.

Bao lần đi rồi trở lại với bản làng, tôi vẫn mê say đứng đó, cảm nhận được trong lá cành muôn tiếng râm ran. Cảnh tượng mang đến cho tôi cảm giác mơ hồ, rằng một lần nào đó trong đời, tôi đã đặt chân tới rồi, cũng đứng dưới gốc những cây mận ấy, cũng nghe gió thổi và chim muông ríu rít... Nắng làm ấm sương, đất trời vừa mịt mùng đã lại tan loãng, tỏa rạng.

Trong vườn của người Mông vùng biên giới, từng luống mía xương gà ngả vàng, đốt ngắn tũn và mập mạp, đơm vào hình dung vị ngọt lựng, mềm rụm giữa hai hàm răng tưởng chỉ còn trong ký ức ấu thơ. Trẻ nhỏ xúng xính áo xanh, váy đỏ, túm tụm nhìn khách lạ từ xa, vừa cười, vừa bẽn lẽn, thơ thẩn.

Mỗi mùa xuân trở lại với núi rừng, trong tôi luôn dấy lên cảm giác khá chậm rãi, rõ ràng về sự ấm dần của lòng đất. Xứ non cao, hoa như thể những đám mây, lửng lơ kéo từ khoảnh rừng này qua chân đèo nọ, lắm khi tưởng sà xuống tận vai người. Chẳng biết có phải bởi không khí lạnh ẩm quyện với nồng nàn mà không khí cứ dịu lắng, mơ hồ như khói tỏa. Nơi đó, tôi cứ mải miết nghĩ về nỗi nhớ dệt trong miền thổ cẩm, những hoa văn mang linh giác con người.

Vượt đèo cao, dốc thẳm, mãi rồi cũng gặp những khúc quanh duyên dáng thắt eo, chậm rãi buông chùng như vạt áo chàm. Có lúc, tai cũng ù đi, gáy lạnh, nhưng mây đã kịp vỗ về. Mây biên viễn ấm như khói bếp nhà bạn, quấn lấy người, ôm lấy núi. Hầu hết những mái nhà đều xanh rêu. Lớp rêu từ năm này qua năm nọ tốt bời bời, sục tay vào cũng lại thấy ấm như tấm chăn trời đất, núi rừng đã ủ sẵn, đắp cho những mái nhà bốn mùa ẩn mình trong sương khói, gió mây. Nhiều người vẫn bảo, màu xanh trên những mái nhà nơi đây thường gợi cảm giác buồn bã và tiếc nuối. Riêng tôi lại không hề có cảm giác ấy.

Tôi gặp niềm thương mến, bao dung và che chở thật gần kề, ấm êm, thanh thản. Trong màu xanh nõn nà của rêu non, màu úa vàng của lớp rêu già đang héo dần và bong tróc, có hơi ấm của núi rừng, của trời mây và chính không khí tỏa ra từ mỗi mái nhà. Mái nhà mà cả bản làng đã chung tay đỡ đần nhau từ thuở nghèo nàn, khốn khó. Không ai thuê mướn, mua bán gì cả, hễ nhà nào dựng nhà, khắc cả bản kéo sang làm mái. Mái nhà càng chặt, tình nghĩa càng bền. Người đi cắt lá cọ về phơi, người chuốt cái nọ, người gõ cái kia, mấy chốc mà nên mái ấm.

Từ bản xuống chợ xuân, có phở Tráng Kìm tráng bằng bột gạo nguyên chất, không tẩy màu, từng bánh trắng nõn vắt vẻo trên sào trúc đang bốc hơi nóng hổi được bà chủ dỡ xuống thái đều tay. Chan nước dùng, xếp thịt gà bóng vàng và hành mùi xanh nõn lên thành món thứ thiệt. Ai ngật ngưỡng say rồi, nửa đêm ra hàng cháo ấu tẩu, cái vị nhần nhận đắng, ngòn ngọt đẩy lên từ xa sâu như thang thuốc hữu hiệu làm dịu cơn say rượu, từ tốn dẫn dụ ta bằng một men say khác, êm như ru, khiến ta yêu cả góc hàng quán nhỏ nhắn kề bên lúc lỉu những măng tươi, nấm hương, rau rừng.

Một nhóm phụ nữ người Dao chào mời dược liệu: "Mua đi, mua đi, tốt lắm, tốt lắm!". Sợ khách hồ nghi, những đôi tay lam lũ vặt ngay vài củ này, dăm cành nọ… dúi vào tay khách lạ: "Mang về dùng đi, tốt thì quay lại". Nhưng cả người bán và khách vãng lai đều không biết ngày nào gặp lại nhau.

Cảnh tượng ấy ở miền xanh thẳm này khiến tôi nhớ cách đây vài năm, cũng vào những ngày cuối năm, giáp Tết, tôi đã đến xã Thu Lũm, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu - một xã cực Bắc của Tổ quốc, phía Tây và Bắc tiếp giáp với biên giới Trung Quốc. Biên ải rét căm căm, mười giờ sáng sương vẫn quánh đặc chưa tan, mặc đủ áo ấm rồi toàn thân vẫn buốt thun thút. Hàng đào trong khuôn viên Đồn biên phòng Thu Lũm cây nào cây nấy mốc bạc đang bật nụ, đơm hoa. Nhìn kỹ từng mắt lá, nụ bông mới cảm nhận hết vẻ đẹp bền bỉ, huyền bí và kiêu hãnh của núi rừng.

Anh lính biên phòng người Mông hồ hởi: "Đây là cây đào mình trồng, nếu chị thích, cứ mang về xuôi". Thấy tôi im lặng, người lính thuyết phục: "Mình nói thật mà! Cây thì trồng lại được chứ người về xuôi rồi khó lên đây lắm! Cứ nhìn vào mắt nhau là biết thôi...". Câu nói ấy khiến tôi cay mắt.

Sau mỗi chuyến du xuân lên với miền biên viễn, khi trở về tôi thường viết được một chút gì đó, bắt đầu từ những cơ duyên gặp gỡ trong đời, những lời động viên mộc mạc: "Đồng bào chờ đợi lắm", ánh mắt và câu nói của mọi người cứ mãi ngời lên, trong veo như trẻ nhỏ.

Lữ Mai

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).