1. Sinh động và duyên thầm
Những kỷ niệm khi viết ra đương nhiên là đã được lựa chọn, trong đó có cả chọn lọc cố ý và chọn lọc tự nhiên. Mục tiêu chân - thiện - mỹ mãi là đích hướng tới của văn chương, thì việc viết cái gì và viết như thế nào đương nhiên các nhà văn phải nghĩ tới. Viết về kỷ niệm văn nghệ cũng vậy, không thể bê nguyên xi, tự nhiên nhi nhiên. Rất tiếc, một vài cuốn sách, một số bài báo trên mạng gần đây đã không quán triệt nguyên lý này, làm bạn đọc hiểu sai lệch về giới văn nghệ sĩ. Tất nhiên quan niệm viết của mọi người có khác nhau.
Riêng tôi từ trước đến nay và sau này, những kỷ niệm văn chương của tôi chỉ viết những gì còn đọng lại. Tôi tin vào bộ lọc của chính mình đã tự biết giữ lại những gì cần nhớ. Còn viết về ai, viết nhiều hay viết ít về từng người tôi cũng để tự nhiên. Nó còn có cái duyên văn chương nữa.
Tôi đã từng viết trong lời tựa một tập sách của mình, tập "Ấn tượng văn chương", (2004): "Tôi tâm niệm chỉ viết những điều tự nhiên mình trăn trở, chứ không cố viết, và viết trung thực ý nghĩ của mình không bị tác động bởi bất cứ điều gì. Vì thế, có một số nhà văn tôi rất thân trong cuộc đời, mà lại không gặp gỡ nhau trong văn chương, tôi mong được cảm thông".
Trong tập "Tản mạn nghiệp văn" mới đây tôi có viết về bạn bè, người nhiều người ít thì đó là cái duyên văn chương. Người mà tôi nhắc đến nhiều tất nhiên là được tôi yêu quý. Còn rất nhiều nhà thơ nhà văn tôi yêu quý khác chỉ được nhắc đến một lần hoặc không được nhắc đến thì không có nghĩa là tôi yêu quý ít hơn hoặc đánh giá thấp hơn.
Đừng đòi hỏi sự toàn diện và cân bằng trong một tập sách, thậm chí trong toàn tập của một nhà văn. Văn chương cũng có những bí ẩn riêng. Mặc dù Raxun Gamdatốp thân quen rất nhiều nhà thơ, nhà văn lớn của Liên bang Xôviết và thế giới, nhưng trong tác phẩm lý luận và kinh nghiệm sáng tác của mình, ông chỉ nhắc đến các nhà văn ở Đaghextan nhỏ bé, trong đó nhắc nhiều đến bốn nhà thơ của bốn dân tộc trong nước cộng hòa, đặc biệt ông nhắc nhiều nhất hai người là bố ông (nhà thơ Gamdát Xađa) và nhà thơ Abutalíp.
Thế mà "Đaghextan của tôi" đã đi khắp cả thế giới. Trong sáng tác văn học nghệ thuật cũng vậy. Lịch sử hội họa Trung Hoa có Từ Bi Hồng chỉ chuyên vẽ ngựa, Tề Bạch Thạch chỉ chuyên vẽ tôm mà cũng thành những danh họa nổi tiếng thế giới. Không cần phải đa dạng, sự chuyên biệt cũng có giá trị riêng.
Không phải vấn đề ở chỗ nhắc đến nhiều hay ít, mà là nhắc đến có trung thực không, có tiêu biểu không. Tôi nhắc đến Raxun Gamzatốp và Trần Đăng Khoa hơi nhiều như nhận xét của một số nhà thơ nhà văn, trước hết bởi tôi yêu hai nhà thơ ấy. Rồi khi viết mạch văn đến đấy thì hai nhà thơ này cùng rất nhiều nhà thơ nhà văn khác xuất hiện nhưng không hiểu sao cổng văn của tôi lại chỉ để hai nhà thơ ấy lọt vào, mặc dù tôi đã đặt cân và thước đo tự động ở đấy. Biết làm sao được, tôi không cố ý cũng chẳng vô tình. Nhưng để các anh đọc có cảm giác ấy, có thể phần nào do tôi viết còn vụng.
Tôi không thích những tác phẩm được sắp đặt bài bản, kể cả tác phẩm sáng tác và tác phẩm phê bình. Những tác phẩm được sắp đặt bài bản thường chỉ đúng chứ không hay. Những tác phẩm ấy có thể cân đối nghiêm chỉnh, có thể đầy đủ nhưng sẽ thiếu sinh động, thiếu duyên thầm. Mà nghệ thuật thì rất cần sinh động và duyên thầm.
Đứa con của tôi được đặt tên là "Tản mạn nghiệp văn" đã ra đời rồi. Chào đón nó, một số người khen và vài ba ý kiến chê, nhưng không ai rủa sả. Thôi thế cũng quý lắm rồi. Bây giờ nó sẽ sống bằng chính thực lực của nó, khỏe mạnh hay yếu ớt thì thời gian sẽ trả lời. Xung quanh việc "Tản mạn nghiệp văn" ra đời có biết bao kỷ niệm cả vui và buồn. Mỗi tác phẩm của bất kỳ nhà văn nào xuất hiện cũng có bao kỷ niệm đi kèm. Nhưng chỉ những tác phẩm sinh động, có duyên thầm mới ít nhiều tạo được dư luận. Không biết như thế có công bằng không?
2. Tác phẩm đỉnh cao
Tác phẩm đỉnh cao luôn là ước mơ của mỗi nhà văn và của cả xã hội qua tất cả mọi thời đại. Nhưng thế nào là tác phẩm đỉnh cao và làm thế nào để có được nó thì có rất nhiều câu trả lời khác nhau, không dễ thống nhất.
"Truyện Kiều" là tác phẩm đỉnh cao của văn học Việt
Còn thơ "thần" của Lý Thường Kiệt, "Hịch Tướng sĩ" của Trần Quốc Tuấn, "Phò giá về kinh" của Trần Quang Khải, "Thuật hoài" của Phạm Ngũ Lão, "Bạch Đằng giang phú" của Trương Hán Siêu, "Cáo bình ngô" của Nguyễn Trãi có phải là những tác phẩm văn chương đỉnh cao của thời đại Lý - Trần - Lê? Không phải tác phẩm đỉnh cao thì sao cứ nhắc về thời đại ấy người ta lại nhắc đến nó? Nếu không có nó thì lấy gì để nhắc về văn chương của các thời đại ấy đây? Thế thì đương nhiên đấy là những tác phẩm đỉnh cao rồi, bởi nó mang được lý tưởng và tâm hồn của các thời đại ấy. Nhưng rõ ràng là dung lượng của những tác phẩm ấy không đồ sộ. Thế thì tác phẩm đỉnh cao phải đo bằng độ cao của trí tuệ và độ sâu của tâm hồn, chứ không thể chỉ đo bằng tầm vóc khối lượng.
Sự đồ sộ của khối lượng không phải là tiêu chí cao nhất để đo nghệ thuật. Ngay trong tác phẩm "Truyện Kiều" thì dung lượng hiện thực cũng chỉ được xếp hàng sau giá trị nhân văn nhân đạo. Giá trị cao nhất của "Truyện Kiều" là ở câu thơ "Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung". Đó là tiếng kêu xé ruột, là câu hỏi của thời đại, nó còn vọng mãi đến ngày hôm nay và nhiều thế kỷ mai sau... Tất nhiên giá trị tư tưởng nhân đạo ấy được cất lên từ nền tảng hiện thực.
Còn "Chinh phụ ngâm" có phải là tác phẩm đỉnh cao? Câu trả lời còn khó khăn hơn nữa nếu chỉ hiểu nghệ thuật ở mức độ phản ánh hiện thực. Còn nếu hiểu tác phẩm nghệ thuật phải là tấm gương phản chiếu thời đại, thì đây chính là tác phẩm đỉnh cao của văn chương nước nhà. Phản đối chiến tranh phi nghĩa cũng là một chiều sâu của tư tưởng ca ngợi chiến tranh chính nghĩa.
Cùng nói về cuộc chống Mỹ cứu nước vĩ đại của dân tộc, nhưng những câu thơ "Đường ra trận mùa này đẹp lắm" và "Đường Trường Sơn vui như trẩy hội" phải đứng ở đằng sau các câu thơ "Mười sáu năm rồi, nửa ta máu ứa/ Biết mấy mẹ già chống cửa trông con" và "Xuân về, táo rụng nhớ đàn em...". Tại sao vậy? Bởi niềm vui và nỗi buồn đều tạo nên sức mạnh. Nhưng sức mạnh của niềm vui là sức mạnh thẳng, còn sức mạnh của nỗi buồn là sức mạnh của sự vùng dậy, tạo thành sức đẩy lớn hơn.
Sự nghiệp văn chương của nhà thơ Tú Xương cũng vậy. Những bức tranh hiện thực nửa Tây nửa ta nhố nhăng đầu thế kỷ XX với những tiếng cười rơi nước mắt, tất nhiên là có giá trị to lớn. Nhưng bài thơ "Sông Lấp" mới là tiếng hồn của thi sĩ Tú Xương, cũng là tiếng hồn của dân tộc nghẹn nấc giữa cảnh nước mất: "Sông kia rày đã lên đồng/ Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai/ Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò"...
Với nhà thơ Nguyễn Khuyến cũng vậy, ông là "nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt
Thế thì tác phẩm đỉnh cao phải hiểu ở chiều cao của trí tuệ và chiều sâu tâm hồn được kết đọng trong những hình tượng nghệ thuật đẹp của mỗi tác phẩm. Nếu chúng ta cùng thống nhất như vậy thì có thể chúng ta đã có những tác phẩm văn chương đỉnh cao rồi. Tác phẩm đỉnh cao có thể vừa cao xa, nhưng cũng vừa gần gũi. Không ít tác phẩm văn chương của chúng ta từ 1945 trở lại đây có tầm cao tư tưởng, chiều sâu tâm hồn và hình tượng nghệ thuật đẹp. Mà chúng ta thì đòi hỏi quá cao, giống như "gần chùa gọi bụt bằng anh" chăng? Hãy biết lùi xa để nhìn nhận. Không được quá tự hào tự mãn, nhưng theo tôi tâm lý tự ti cũng chế ngự rất lớn trong việc đánh giá nền văn chương của chúng ta. Và phải hiểu tác phẩm đỉnh cao cũng có nhiều tầng nấc.
Thủ tướng Phạm Văn Đồng có viết một câu rất sâu sắc: "Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng". Có thể chúng ta chưa chăm chú nhìn chăng, nên chưa phát hiện ra những đỉnh Fanxipăng trong dải Hoàng Liên Sơn điệp trùng của nền văn chương Việt Nam hiện đại?
4/11/2009