Đề tài lịch sử: Tưởng dễ hoá khó

Trong ám ảnh của văn nghệ sĩ, của nhà văn, viết về lịch sử, tái hiện lịch sử, tưởng dễ mà khó, thậm chí là rất khó. Đôi khi đụng chạm lắm chuyện phiền hà, chẳng phải đầu thì phải tai.        

Như chuyện phim ảnh. Nhiều năm trước, phim cổ trang Trung Quốc, phim cổ trang Hàn Quốc tràn ngập màn ảnh nhỏ và các rạp. Xem nhiều phim cổ trang nước ngoài, người xem phim Việt xuýt xoa khen tụng các nhân vật mà với người Việt nghìn đời nay là kẻ thù, từng gây nên các cuộc xâm lược tàn ngược nước mình mà không biết. Xem "Tể tướng Lưu gù" khen ông Càn Long thông minh, nhân từ hết lời, ngay sau đó lại khen ông Quang Trung đại phá giặc Thanh bạo ngược. Cũng có chuyện vì xem quá nhiều phim Tàu nên thanh niên Việt thuộc sử Tàu nhiều hơn sử ta. Hỏi Lê Lợi là ai còn lẫn chứ Đường Minh Hoàng, Ung Chính, Từ Hi Thái hậu là ai là biết liền, biết thật chi tiết (dù là biết theo sự tưởng tượng của đạo diễn).

Để thoát cảnh ăn đong, xôi người cúng chùa nhà, một cuộc ra quân rầm rộ để sản xuất phim lấp đầy khoảng từ 30% đến 50% giờ phát dành cho phim trên truyền hình được mở ra. Kết quả là thật nhanh chóng, từ chỗ làm được 200 tập phim một năm đã giỏi, các hãng phim Việt cả Nhà nước cả tư nhân đã làm được 400 tập rồi 800 tập, đến bây giờ 1.000 tập là chuyện bình thường. Làm phim "mì ăn liền", khoảng hơn 100 triệu một tập để lấp đầy giờ phát, phim Việt đã thoát cảnh ăn đong. Từ nay, hẳn không còn cảnh phim nước ngoài có vài bộ mà nước ta có đến 67 đài truyền hình, phải chầu chực chờ đài X phát xong đài Y mới được mang về từng tập một, thành ra có khi hơn chục đài cùng chiếu một phim, chỉ khác tập. Nhưng đấy mới chỉ nói chuyện số lượng, chất lượng vẫn là chuyện gian nan. Phim về đề tài hiện đại còn đỡ, đụng đến phim cổ trang (ta quen gọi là phim lịch sử) thì khó khăn chồng chất như núi, không dễ chút nào. Làm phim đề tài này, không phải đi thuê, đi mượn được mà tất cả phải sắm, từ nội cảnh đến ngoại cảnh, đạo cụ, trang phục cho hàng trăm, có khi hàng nghìn người, chưa kể những "của độc" như voi chiến, ngựa chiến. Hàng tỷ đồng cho những thứ đó là chuyện nhỏ, mà chưa chắc đã xong. Nhưng tốn kém còn đỡ, cái khó vẫn là biết thời ông Ngô Quyền ăn thế nào, mặc thế nào, thuyền bè thế nào, đánh nhau thế nào mà làm phim? Khó hơn là xã hội thế nào, tâm lý con người ra sao, yêu đương thế nào… để mà viết kịch bản.

Đến đây nảy ra câu hỏi: Thế sao người ta làm được mà mình thì không? Thưa rằng người ta làm được vì người ta được phép "bịa" trên cơ sở những hiểu biết, ước đoán về quá khứ. Nghệ thuật về đề tài lịch sử không phải là lịch sử. Người quản lý và công chúng của họ chấp nhận các ông Khổng Minh, Quan Vân Trường, Trương Phi trong phim "Tam Quốc diễn nghĩa" này khác các ông Khổng Minh, Quan Vân Trường, Trương Phi ở phim "Tam Quốc diễn nghĩa" khác. Cũng như thế với Bao Thanh Thiên, Đường Minh Hoàng, Từ Hi Thái hậu, Đê chang kưm, Chun jee ô… Cũng như thế với cảnh nội, cảnh ngoại, phục trang binh khí. Nghĩa là họ chấp nhận chuyện trong kịch bản không có trong lịch sử, chỉ cần giống như lịch sử và có ý nghĩa với ngày nay là được. Còn ta thì không. Phim cổ trang nào giới sử cũng phải có ý kiến thẩm định có đúng với những gì đã diễn ra trong chính sử không. Mà nhà sử thì không phải là nhà làm phim. Thế là bế tắc, chưa nói gì đến tiền bạc và những thứ khác. Cho nên rộ lên dịp trước 2010 kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, hàng chục phim cổ trang cái thì xin phép, cái thì bấm máy nhưng cuối cùng không có phim nhựa để chiếu trong ngày chính lễ, các phim khác thì èo uột,  phát truyền hình một lần rồi mất tăm dạng. Hỏi một nhà đạo diễn bao giờ phim cổ trang ta bằng phim cổ trang Trung Quốc, nhà đạo diễn kia cười: "Phải ba chục năm nữa, nếu ta tiến nhanh". Còn riêng tôi thì nghĩ có lẽ hơn…

Nhiều cuộc hội thảo xoay quanh chủ đề văn nghệ sĩ với đề tài lịch sử đã được tổ chức trong thời gian qua. Trong ảnh: Quang cảnh buổi Hội thảo “Nguyễn Huy Tưởng và lịch sử”.

Nhiều cuộc hội thảo xoay quanh chủ đề văn nghệ sĩ với đề tài lịch sử đã được tổ chức trong thời gian qua. Trong ảnh: Quang cảnh buổi Hội thảo “Nguyễn Huy Tưởng và lịch sử”.

Hết chuyện phim đến chuyện kịch. Quả thật trong loại hình sân khấu, lịch sử xôm trò hơn phim. Kịch mục của nhiều đoàn dày đặc các vở lấy đề tài lịch sử, đến nỗi để ngăn chặn tình trạng "lạm phát lịch sử" này, Liên hoan Kịch nói toàn quốc năm 2012 vừa qua tại Huế phải ra một cái lệnh "cấm"… các vở đề tài lịch sử. Vở diễn đề tài lịch sử dễ gây tò mò với các hậu duệ của nhân vật Hoàng "tiên sư thằng Tào Tháo" trong truyện ngắn "Đôi mắt" của Nam Cao hơn, dễ "nói Sơn Tây chết cây Hà Nội" hơn, đạo cụ, phục trang cũng dễ "ang áng" hơn, nhưng xem ra không biết có phải sân khấu đến hồi mạt không mà ngay đến những vở mang đề tài lịch sử cũng không kéo được người xem đến rạp, kéo được tiền về cho đoàn. Vì sao vậy? Hóa ra lại do các nhà sử học và những ý nghĩ cũ kỹ về quan hệ sử học với nghệ thuật lịch sử. Theo họ, dù là sân khấu cũng phải bám vào các nhân vật, các sự kiện lịch sử có thật. Thế là đôi cánh sáng tạo, "bịa như thật" bị trói chặt.

Các vở mang đề tài lịch sử phần nhiều là "bổn cũ soạn lại" hoặc vẫn giữ nguyên tư duy cũ, tích cũ, không có gì đột phá vì muốn đột phá được thì phải "bịa", phải hư cấu. Đã xa lắm rồi cái thời người ta đổ xô đi xem "ĐảoVệ nữ", "Người đốt đền", hay "Nguyễn Trãi ở Đông Quan", "Rừng Trúc"… Ở những vở đó hay nhiều vở khác nữa như "Vòng phấn Kavkaz", "Vũ Như Tô"… người ta không thấy lịch sử đúng như lịch sử, người ta chỉ thấy nghệ thuật lấy cớ lịch sử chứ không phải nghệ thuật bò lê theo lịch sử như cách nhìn của một số người về sân khấu lịch sử.

Hết chuyện kịch đến chuyện văn. Ngày xưa, vốn văn sử bất phân. "Hán thư", "Hậu Hán thư", "Sử ký" (của Tư Mã Thiên) là văn hay là sử? Còn biết bao tiểu thuyết, truyện ngắn từ đề tài lịch sử của người thời nay viết, đọc không thể hết và thèm ước thì vô cùng. Ngay ở Việt Nam, cách ta gần một thế kỷ đã có hẳn một dàn nhà văn bề thế: Đào Trinh Nhất, Lan Khai, Ngô Tất Tố, Chu Thiên… với nhiều tiểu thuyết như "Lều chõng", "Bóng nước Hồ Gươm"… đến giờ in lại vẫn có nhiều người đọc. Gần ta hơn nữa, Nguyễn Xuân Khánh sau một thời gian dài im lặng, vào tuổi 80 đã ra liền ba tiểu thuyết lịch sử "Hồ Quý Ly", "Mẫu thượng ngàn" và "Đội gạo lên chùa", tuy mạnh yếu mỗi quyển khác nhau nhưng nói chung đọc được, đứng được. Vậy tại sao khi bàn về tiểu thuyết lịch sử vẫn nhiều người ngần ngại? Trước hết, từ đâu trở ngược là lịch sử còn từ đâu trở lui là hiện đại? Từ khi Pháp mang quân vào cửa biển Đà Nẵng đến Điện Biên Phủ đã là lịch sử chưa hay vẫn hiện đại. Từ 1954 đến 1975 đánh Mỹ đã là lịch sử chưa hay vẫn hiện đại… Những điều ấy cần rõ ràng. Chỉ có rõ ràng như thế mới mở đường sáng tạo cho nhà văn được.

Trở lại vấn đề hư cấu. Cũng giống như kịch, lấy cớ không được xuyên tạc lịch sử, bảo vệ truyền thống, có một số nhà sử, kể cả một số nhà phê bình văn học hiện nay xăm soi từng trang viết để đòi hỏi nó phải giống hệt lịch sử. Chỉ vì cần xác minh cô Huệ trong kịch bản văn học có thật ở ngoài đời không mà phim phải chờ hàng năm. Chỉ vì tiểu thuyết có một bài thơ, cần xác minh bài thơ ấy có thật của nhân vật không, thế là bao chuyện rầy rà. Khi bắt văn học chỉ được phép "phản ánh chân thực" những gì đã xảy ra, phải bám vào nguyên mẫu chứ không phải bám vào trí tưởng tượng của nhà văn tức là đã giết chết văn học, biến nhà văn trở thành người viết ký, những người làm báo đơn thuần.

Từ chuyện văn liên hệ đến chuyện học (vì chúng rất gần nhau). Tình trạng hàng ngàn bài điểm "0" (không) môn sử trong các kỳ thi tuyển, được báo chí công khai mấy năm gần đây đã khiến xã hội đau đầu. Vì sao người thi vào các môn khoa học xã hội ngày càng ít? Vì sao điểm văn, điểm sử ngày càng kém, trong đó sử còn kém hơn cả văn? Câu trả lời sẽ là vì các môn xã hội ngày càng ít hấp dẫn, học sinh không chịu học? Nhưng vì sao vậy?

Đến đây câu trả lời trở nên rất khó và mâu thuẫn nhau. Người thì đổ lỗi cho chương trình giảng dạy, cho sách giáo khoa chậm cải tiến. Lịch sử đất nước thì hào hùng, sinh động trong khi sách giáo khoa nhạt nhẽo, khô cứng, chỉ loay hoay mấy trận chiến lịch sử, làm như lịch sử Việt Nam chỉ có đánh nhau là chính, học sinh học không vào. Người đổ lỗi cho trẻ em thời nay không chịu học hành những môn cơ bản, chỉ chạy theo những kiến thức ứng dụng được ngay để kiếm nhiều tiền. Văn không đọc hết một cuốn tiểu thuyết, sử không đọc nghiêm chỉnh lấy trăm trang, chỉ chạy theo thiết kế thời trang, đồ họa ứng dụng… thì sao mà giỏi được. Trong khi cuộc cãi vã như vậy chưa ngã ngũ thì người yêu sử cứ vãn dần, các văn nghệ sĩ, nhà văn yêu sử, gắn bó với sử cũng vãn dần (không có học sinh giỏi sử thì lấy đâu ra văn nghệ sĩ giỏi sử, tác phẩm hay về sử), còn lại người nào thì lại bị cái nghèo, cái cũ nó trói buộc.

Cho nên khai thác đề tài lịch sử trong sáng tạo nghệ thuật tưởng dễ mà hóa khó. Nó chỉ tưởng khó mà hóa dễ khi nào ta bớt nghèo và nhất là thay đổi được tư duy cũ như một dây trói vô hình lâu nay đối với những nghệ sĩ, nhà văn tâm huyết với đề tài này. Lúc đó, sẽ là bình thường quan niệm sử là sử, văn là văn. Nó có liên hệ với nhau nhưng như gạo và cơm, không thể lẫn lộn

Vũ Duy Thông

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).