Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Là một trong những gương mặt tiêu biểu dành trọn tâm huyết cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc qua ngôn ngữ sân khấu hiện đại, mới đây đạo diễn Vạn Nguyễn là người Việt đầu tiên được UNESCO Nhật Bản vinh danh “Đạo diễn vì sứ mệnh bảo tồn giá trị văn hóa UNESCO 2025”. Chuyên đề Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng đạo diễn Vạn Nguyễn về hành trình bảo tồn và lan tỏa bản sắc văn hóa Việt.

- Là người đầu tiên của Việt Nam được UNESCO Nhật Bản vinh danh “Đạo diễn vì sứ mệnh bảo tồn giá trị văn hóa UNESCO 2025” do Liên hiệp các hội UNESCO Việt Nam và Liên hiệp các hội UNESCO Nhật Bản tổ chức. Danh hiệu có ý nghĩa với anh như thế nào?

capture.jpg -0
Đạo diễn Vạn Nguyễn (trái) nhận Danh hiệu từ Giáo sư Yuji Suzuki - Tổng giám đốc Unesco Nhật Bản.

+ Với tôi đây là một vinh dự bất ngờ. Bản thân tôi làm nghề chưa từng nghĩa đến giải thưởng dù trong nước hay quốc tế. Tôi làm việc như một nhu cầu bản năng, cứ có cơ hội được chạm đến các dòng nghệ thuật di sản là thấy thôi thúc trong lòng phải tham gia, phải làm. Việc vinh danh lần này giống như sự động viên lớn lao và cho tôi thêm động lực để tiếp tục cống hiến.

Hơn 20 năm làm nghề, tôi thật sự khó có thể nhớ hết được các chương trình đã thực hiện. Chỉ có một nguyên tắc khi đã nhận lời thì tôi và ê kíp đều nỗ lực hết mình, dù là chương trình lớn hay nhỏ, do nhà nước hay doanh nghiệp đầu tư, thuần túy di sản hay mang màu sắc đương đại...

Có thể kể một số dự án nghệ thuật gắn với di sản văn hóa Việt Nam chúng tôi đã thực hiện thời gian qua như: Chương trình nghệ thuật “Kỷ niệm Đại lễ nghìn năm Thăng Long 2010”, “Tuần lễ Festival Văn hóa Việt và giao lưu Quốc tế” (2018), Sân khấu thực cảnh “Tinh hoa Việt Nam” (bản nâng cấp năm 2024); Dự án sân khấu di sản tại Công viên Nam Hội An 2028; Vở diễn “Việt Nam Bách nghệ” (bản nâng cấp năm 2025); Chuỗi Âm nhạc tôn vinh cây Đàn bầu Việt Nam các năm từ 2021 đến 2023; Chương trình giao lưu văn hóa quốc tế 2023 – 2024… cùng hệ tác phẩm về “Tứ Trấn Thăng Long”, “Nghề cổ Thăng Long và Những dấu ấn văn hóa Hà Nội từ 2022 đến 2025, cùng nhiều dự án âm nhạc di sản đương đại từ năm 2017 đến nay.

- Được ví như “Người kể chuyện bằng ngôn ngữ sân khấu”, vì sao anh luôn chú trọng tới việc kết nối văn hóa dân gian và sân khấu hiện đại, mang tinh thần Việt Nam đến gần hơn với khán giả trong và ngoài nước?

+ Văn hóa truyền thống luôn giữ một vai trò then chốt đã được khẳng định trong các chủ trương, chính sách lớn. Tôi chỉ bổ sung thêm từ thực tiễn làm nghề đó là, những chương trình có “tuổi đời” lâu nhất, sức sống bền bỉ nhất, có sức ảnh hưởng và lan tỏa nhất đều có chất liệu, có hạt nhân là văn hóa truyền thống. Nhưng không phải bây giờ mà ngay từ ngày xưa, các bậc tiền bối đã khai thác rất tốt chất liệu văn hóa truyền thống, ở nhiều góc độ khác nhau. Từ đó làm nên những tác phẩm lớn như “Bài ca giữ nước” (Tào Mạt), hay mạnh dạn mang những nhạc cụ truyền thống như đàn bầu, đàn tranh… đi khắp thế giới.

Thế hệ chúng tôi, có may mắn hơn là được tiếp cận với những dự án của những nhà đầu tư lớn, có công nghệ trong tay. Và từ đó, câu chuyện di sản Việt Nam được đưa đến quốc tế một cách thuận tiện và lan tỏa rộng khắp. Sự hội nhập văn hóa sâu rộng từ những chủ trương lớn, chính sách lớn và cùng với những “cú hích” là sự đầu tư lớn... là những thuận lợi mà thế hệ làm nghề chúng tôi có được, tạo nên một gạch nối, một sự phát triển thống nhất, đồng nhất với thế hệ đi trước

- Trong quá trình dàn dựng, anh thường lựa chọn và xử lý chất liệu truyền thống theo tiêu chí nào?

+ Ở mỗi dự án, tôi luôn tìm cách hòa quyện giữa tinh thần truyền thống và ngôn ngữ sân khấu đương đại. Ví dụ như màn tôn vinh nghề gốm thủ công được thể hiện bằng âm nhạc mang âm sắc nhạc cụ dân tộc kết hợp tiết tấu hiện đại, ánh sáng sân khấu được xử lý như một lớp cảm xúc. Không gian chợ nổi trong màn “Sông nước Phương Nam” của show thực cảnh “Tinh hoa Việt Nam” được tái dựng vừa sống động vừa nên thơ, giúp khán giả cảm nhận được sự mộc mạc của Nam Bộ qua âm sắc đờn ca tài tử. Với “Tứ trấn Thăng Long”, tôi đưa nghệ thuật xẩm trở thành trục chính của tác phẩm, bổ sung thêm những nét mới để những loại hình nghệ thuật tưởng cũ nhưng lại chứa đựng sức sống mãnh liệt khi được kể bằng ngôn ngữ sân khấu mới.

Ở mỗi chương trình, tác phẩm, tôi cùng ê kíp thực hiện luôn cố gắng để tìm ra một hướng đi mới, một ngôn ngữ mới dựa trên hạt nhân truyền thống quý báu. Từ đó, gửi gắm thông điệp về giá trị và sự thiêng liêng của di sản đến công chúng khán giả Việt Nam và du khách quốc tế.

- Theo đạo diễn, khó khăn lớn nhất khi đưa văn hóa truyền thống vào các chương trình nghệ thuật hiện đại là gì?

 +Tôi cho rằng khó khăn không nằm ở di sản hay dữ liệu văn hóa truyền thống mà nằm ở việc chuyển hóa và khai thác nó như thế nào. Làm sao để công nghệ, kỹ thuật phụ trợ không lấn át mà phải để hạt nhân di sản ấy tỏa sáng. Thách thức lớn nhất với người làm nghề là sử dụng công nghệ gì, kỹ thuật gì, trong không gian gì để giá trị lõi của văn hóa truyền thống được nhân lên một cách mạnh mẽ nhất và nguyên bản nhất, đưa sự thưởng thức của khán giả đến giới hạn cảm xúc. Tôi quan niệm giữ gốc của di sản không phải là bê y nguyên cái cũ lên sân khấu mà phải thổi vào đó tinh thần mới. Giống như việc thêm lời hát hay những bản phối nhẹ nhàng góp phần tôn vinh vẻ đẹp của quan họ, cải lương gốc.

- Khán giả trẻ hiện nay đón nhận các yếu tố truyền thống trong nghệ thuật hiện đại ra sao thưa đạo diễn?

+ Một trong những thách thức lớn nhất của nghệ thuật truyền thống nằm ở việc tiếp cận công chúng trẻ. Tôi cho rằng thế hệ trẻ hôm nay có sự tiếp cận văn hóa thế giới rộng mở và khả năng cảm thụ nhanh nhạy, vì vậy sân khấu di sản muốn chạm tới họ phải được đầu tư nghiêm túc cả về sáng tạo lẫn công nghệ.

- Gần đây, chúng ta hay nhắc tới ngành công nghiệp văn hóa. Theo đạo diễn, văn hóa truyền thống giữ vai trò thế nào trong đời sống nghệ thuật đương đại cũng như công nghiệp văn hóa?

+ Như tôi nói ban đầu, văn hóa truyền thống hay di sản giữ vai trò then chốt, quyết định đối với giá trị, tiềm năng, sức sống của show diễn. Điều này đã được kiểm chứng cả qua thời gian ở các miền Bắc - Trung - Nam. Thế hệ chúng tôi hiện nay đang khai thác di sản ở góc độ quốc tế hóa, công nghệ hóa và công nghiệp văn hóa hóa. Từ chuỗi biểu diễn tôn vinh Đàn bầu thu hút hàng ngàn khán giả bên Hồ Gươm cho tới hàng ngàn suất diễn của “Ký ức Hội An”, “Tinh hoa Việt Nam” với sự đón nhận bền bỉ của khách trong nước và quốc tế. Điều đó cho thấy khi di sản được làm mới một cách nghiêm túc và sáng tạo, nó hoàn toàn có thể trở thành món ăn tinh thần hấp dẫn đối với mọi lứa tuổi.

- Theo đạo diễn, làm thế nào để việc lưu giữ các giá trị văn hóa truyền thống được lan tỏa sâu rộng trong cộng đồng?

+ Tôi cho rằng việc giáo dục âm nhạc truyền thống và sân khấu di sản phải được giảng dạy một cách sâu rộng trong học đường ngay từ cấp bậc tiểu học. Việc được tiếp cận, lắng nghe và học tập âm nhạc, sân khấu truyền thống ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường một cách bền bỉ mới có thể tạo được tình yêu, sự trân trọng của giới trẻ đối với nghệ thuật truyền thống. Bên cạnh đó, sự quan tâm, đãi ngộ tới lớp nghệ sĩ trẻ cũng chính là cách động viên trực tiếp và thiết thực tới những hạt nhân của kho tàng nghệ thuật truyền thống vô giá.

- Không chỉ là người sáng tạo, anh còn là giảng viên, cố vấn nghệ thuật truyền cảm hứng cho nhiều thế hệ trẻ trong hành trình tiếp nối và gìn giữ cội nguồn văn hóa. Anh thường nói điều gì về trách nhiệm của các nghệ sĩ trẻ?

+ Người Việt rất yêu văn hóa. Họ có yêu mới trân trọng, giữ gìn di sản văn hóa đến ngày hôm nay. Vì thế, trách nhiệm của nghệ sĩ là khai thác và đưa những sản phẩm nghệ thuật mang đậm bản sắc văn hóa đến với công chúng. Thực tế hiện nay có một số người làm di sản theo trào lưu. Họ cho ra những chương trình bên ngoài có màu sắc di sản nhưng sâu bên trong không thấy điều này một cách bài bản, sáng rõ, thậm chí có những yếu tố sai lệch.

Làm show về văn hóa di sản rất khác các chương trình nghệ thuật thông thường. Kiến thức của người làm nghề phải thật sự sâu rộng, chắc chắn mới hy vọng “giải mã” được di sản. Bởi nhiều khi theo thời gian, di sản “hóa thạch ngoại biên”. Nếu không “đọc”, không hiểu được cốt lõi của nó thì không bao giờ làm tới được. Vì thế, để có được những sản phẩm chỉn chu, bên cạnh kinh nghiệm sân khấu, người làm nghệ thuật phải được học, được nghiên cứu, được sống trong không gian văn hóa đó. Phải làm về di sản văn hóa bằng tình yêu, sự trân trọng và thái độ nghiêm cẩn.

- Xin cảm ơn đạo diễn!

Thảo Duyên (thực hiện)

Các tin khác

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Ngày nay, nhiều tác phẩm điện ảnh ra đời nhận được sự bàn luận sôi nổi trên mạng xã hội cùng những bài review phim xuất hiện dày đặc. Tuy nhiên, giữa dòng chảy ồn ã ấy lại thiếu vắng những bài phê bình có chuyên môn, đi sâu vào ngôn ngữ điện ảnh, giá trị nghệ thuật và ý nghĩa văn hóa của tác phẩm. Để đời sống điện ảnh không chỉ dừng lại ở những lời khen - chê, đánh giá cực đoan, cần thêm những tiếng nói phê bình giàu tri thức, góp phần nâng cao thị hiếu và nuôi dưỡng tình yêu điện ảnh trong công chúng.

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Việc đưa chất liệu truyền thống vào các sản phẩm nghệ thuật đang trở thành xu hướng và mở ra nhiều hướng sáng tạo, góp phần làm mới cách tiếp cận và lan tỏa những giá trị văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, điều này cũng yêu cầu nghệ sĩ cần sự hiểu biết, tôn trọng và trách nhiệm với những giá trị văn hóa mà sản phẩm khai thác.

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” của Tố Hữu - một trong những bài thơ tiêu biểu viết về Cách mạng Tháng Tám năm 1945, không chỉ là niềm vui của một cá nhân, hay của hàng chục triệu người, còn là niềm vui hồi sinh của một dân tộc vừa thoát khỏi ách nô lệ, giành lại quyền làm chủ vận mệnh. Cũng là niềm vui được cống hiến và kiến tạo tương lai. “Vui bất tuyệt” trở thành cảm hứng chung cho nhiều tác phẩm nổi tiếng cùng chủ đề.

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Là dự án phim ý nghĩa nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, "Trời cao nguyên xanh" không chỉ khắc họa cuộc chiến bền bỉ, thầm lặng nhưng không kém phần gian nan của các chiến sĩ Công an mà còn mang đến cho khán giả hành trình giàu cảm xúc về lòng dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng bình yên cho bầu trời cao nguyên xanh.

Ước hẹn từ quá khứ

Ước hẹn từ quá khứ

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân trong những ngày qua

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Bộ phim truyền hình "Tận hiến" (Điện ảnh CAND sản xuất) vừa khép lại hành trình phát sóng nhưng dư âm mà bộ phim mang lại vẫn tiếp tục lắng đọng trong lòng khán giả. Giữa dòng chảy của điện ảnh chính luận, "Tận hiến" tạo dấu ấn không chỉ bởi câu chuyện về những chiến sĩ tình báo CAND hoạt động và sẵn sàng hy sinh trong thầm lặng mà còn ở cách làm phim giàu tâm huyết và khát vọng.