Giữa trưa hè, chị Hờ Thị Dê - một bà mẹ người Mông, bụng chửa 8 tháng, cùng 6 đứa con đang lụi cụi trỉa ngô trên nương. Chợt có một tiếng nổ xé rách cô tịch rừng già. Chị Dê đổ vật xuống, trên người lỗ chỗ gần 30 lỗ đạn chì, máu lênh láng trên những bẹ ngô vàng quắt queo. Trong lùm cây rậm rạp cách đó khoảng hai chục mét, có hai chiếc mặt nạ kết bằng lá rừng vất chỏng trơ...
Nhận tin báo, lực lượng điều tra trọng án, kỹ thuật hình sự lập tức gói ghém hành trang lên núi. Chúng tôi mang theo mỳ tôm, đèn pin, thuốc lào, chăn chiếu, và đương nhiên, cả những khẩu súng đầy ắp đạn. Lính hình sự miền sơn cước có nét đặc thù khác miền xuôi. Bởi những chuyến đi của họ, có khi, tóc rậm trùm vai mới ra khỏi rừng…
Từ Tp Yên Bái đến huyện lỵ Trạm Tấu ngót nghét 150km. Đoạn đường từ Nghĩa Lộ lên Trạm Tấu như con rắn luồn giữa núi và vực thẳm hun hút. Bản Mù là xã đặc biệt khó khăn của huyện Trạm Tấu. Ngày nắng to nhất, từ huyện lỵ nhìn lên cũng chỉ thấy đỉnh non mờ mờ trong mây. Thôn Mông Đơ và Mông Xi lúp xúp khoảng trăm nóc nhà lịa ván thông, nằm rải rác nép mình bên triền núi hiu quạnh. Trên một khoảng đất trống, người ta dựng hai dãy nhà dài, lợp ván gỗ để làm trụ sở Ủy ban kiêm lớp học xoá mù, kiêm nhà hộ sinh, trạm xá. Khi đoàn công tác lên đến nơi thì trời đã về chiều. Chúng tôi xúm quanh nạn nhân, được đậy tạm bằng mấy tàu chuối. Nắng hè làm thi thể phân hủy nhanh, đã bắt đầu tỏa ra mùi khó chịu. Đêm xuống, anh em soi đèn pin để bác sĩ pháp y làm nốt các thao tác cuối cùng.
Xã Bản Mù như ốc đảo nằm trong mây. Ở đây mây theo chân người vào giấc ngủ, sà vào từng bữa ăn. Hằng ngày gần trưa mới tan sương, dẫu đang là mùa hạ. "Tổng hành dinh" của chúng tôi đặt tại trụ sở xã. Sau khi khám nghiệm, cánh pháp y rút đi, còn trụ lại hai chục anh em trọng án, hình sự. Chúng tôi cắt hẳn ra hai "chú" nấu cơm, số còn lại hằng ngày vào bản thu thập tin tức. Không thể kể hết nỗi gian truân những tháng ngày ấy. Cả tháng anh em quanh quẩn "bài ca": cải mèo - bí đỏ. Xã chỉ có thế, mà thế đã là sang, bởi vì có mỡ mang từ nhà đi để xào nấu. Còn nhớ hôm thèm thịt quá, anh em bàn nhau chung tiền mua con lợn con về mổ cho có tí tươi. Nhưng rủi thay khi chọc nhát dao đầu tiên mới hay đó là "lợn gạo"…
Hiện trường xảy ra vụ án tại nương ngô cách nhà chị Dê chừng 2 tầm dao quăng. Xung quanh nương là các bụi cây dại um tùm và một con suối cạn. Khi khám nghiệm, chúng tôi phỏng đoán hướng đến và rời khỏi hiện trường của hung thủ, rồi theo đó mà lần tìm những thứ có thể có giá trị truy nguyên kẻ thủ ác. Tìm thật kỹ, cuối cùng đã phát hiện cách nơi chị Dê bị bắn chừng 20m, trong lùm cây dại có 2 chiếc mặt nạ kết bằng những phiến lá cây ngõa to bản, gài vào nhau bằng những que tre. Ở vùng mắt có khoét lỗ để nhìn. Phát hiện này rất quan trọng, cho thấy thủ phạm có sự chuẩn bị kỹ trước khi gây án, và vì vậy, nhiều khả năng động cơ phạm tội do mâu thuẫn, thù tức cao độ. Ngoài ra, hai chiếc mặt nạ kết lá, đã tố cáo số lượng hung thủ và tâm lý đối tượng là sợ bị nhận diện. Vì sao chúng phải che mặt, nếu không phải là người có quan hệ hoặc là hàng xóm của nạn nhân? Từ phán đoán trên, chúng tôi thu hẹp phạm vi soát xét, loại trừ khả năng đối tượng vãng lai. Tuy vậy, tìm trong hơn 100 nóc nhà ra tên sát nhân không phải chuyện dễ…
Trong chốn âm u rừng già này, từ bao đời có chuyện khi ghét nhau, người ta thường "thả ma". Người già kể nhà nào bị "thả ma" sẽ lụn bại, sẽ đau yếu quặt quẹo, trâu bò trong chuồng lăn đùng ra chết. Muốn biết bị ai hại, phải mời thầy mo đến cúng. Trong thôn lúc đó có ông Hảng A Dơ nổi tiếng cao tay. Nếu nghi ai, chỉ cần thầy Dơ đặt quả trứng gà trên sống dao. Sau cả giờ mà trứng không đổ, đích thị người đó là "thủ phạm". Liệu truyền thuyết này có liên quan gì đến cái chết của chị Dê, bởi các lý do khác đã có thể loại trừ. Chúng tôi một mặt "rung chà" cho "cá nhảy", mặt khác theo dõi số nam giới bỗng dưng… vắng mặt. Đồng thời, bí mật nắm tình hình các hộ có người bị đau ốm, hoạn nạn trong cả hai thôn, những nhà vừa giết lợn cúng ma trước thời điểm xảy ra vụ án…
Trời không phụ người, trong một đêm trăng suông, có người lẻn đến trạm xá gặp chúng tôi, ra hiệu đi theo anh ta vào rừng. Tính toán nhanh, tôi gọi cậu phiên dịch, súng lên đạn cầm tay dò dẫm theo lưng anh ta. Đi miết rồi anh chàng dừng lại, ngồi bệt xuống và bắt đầu "phát sóng ngang". Đại loại lý do đưa chúng tôi vào rừng để báo tin mật, rằng chị Dê bị nghi có thể "thả ma" từ lâu, và tháng trước hình như trong thôn có nhà ông Páo cả 3 đứa con đều lăn đùng ra ốm, có mời thầy Dơ cúng ma. Chìa khoá đây chăng? Chúng tôi rút nhanh khỏi khu rừng. Gần 4h sáng hôm sau, đoàn công tác bất ngờ tung quân điểm danh tất cả các hộ dân. Tôi cùng cậu phiên dịch phóng thẳng đến nhà ông Páo. Kiểm tra nhanh, thấy Giàng A Chao (con cả) vắng mặt. Anh Công an viên cùng đi thì thào: "Chắc nó trên lán trong núi".
Vác cái bụng đói cồn, chúng tôi rút êm rồi trèo đèo lội suối tìm Chao. Xế trưa, trước mặt đã là một căn lều rách, nằm nép sau một tảng đá to bên suối. Chao đang ngồi thu lu nướng sắn, mặt chợt biến sắc khi chúng tôi bước vào. Trong lều chẳng có gì đáng kể, ngoài 1 chiếc "lù cở" (gùi đeo lưng đan bằng mây) và 1 khẩu súng kíp. Khi cậu phiên dịch vừa nhấc cái gùi trên vách xuống, Chao liền giằng lấy rồi bỏ chạy ra ngoài. Nghề này chỉ khoái gặp thằng "có tật giật mình". Một cú đá quét làm y ngã sấp, chiếc gùi đổ nghiêng, từ bên trong lăn ra 4 -5 cục nhựa màu nâu. Thuốc phiện! Dễ có đến nửa cân. Chúng tôi áp sát, bẻ quặt hai cánh tay Chao ra sau, bình tĩnh rút khoá bập gọn.
Giật Chao đứng dậy, bất ngờ tôi ra đòn: "Khẩu súng bắn người kia à?". Nghe dịch lại, mắt Chao chợt xám ngoét, miệng lắp bắp. "Ngon rồi!" - anh em reo thầm trong bụng. Chúng tôi xốc nách Chao giải về ủy ban, trong sự khấp khởi hy vọng của cả đoàn. Hội ý nhanh, chúng tôi giải Chao về huyện để khai thác. Sau phút mất bình tĩnh, Chao đã lấy lại sự lầm lỳ cố hữu. Thực ra trong tay anh em cũng chưa có gì phản ánh Chao liên quan đến vụ án mạng. Cái duy nhất để bấu víu là thái độ hốt hoảng của Chao khi bị tôi "bắt nọn". Việc đấu tranh thật vất vả, vì "độ nóng" của ngôn từ xét hỏi, qua trung gian phiên dịch thì "nguội" hẳn. Lắm lúc muốn sẵng giọng thị uy, chợt nghĩ: "Nó hiểu gì mà quát", lại thôi. Hỏi "chay" mãi không ăn thua, bụng bảo dạ: "Chẳng nhẽ thua anh cu tỷ", trong tôi chợt loé lên suy nghĩ: Nó cầm súng kíp đến hiện trường, khả năng có người nhìn thấy. Tôi thay đổi chiến thuật, chỉ hỏi trưa hôm đấy cầm súng kíp đi đâu, nhiều người bảo thế. Không ngờ "tiểu xảo" ấy lại phát huy tác dụng, Chao luống cuống. Trao đổi nhanh với anh Hà Đình My - Phó trưởng Công an huyện, chúng tôi đề xuất tăng quân lên Bản Mù ngay, rà soát dọc đường từ nhà Chao đến nương ngô của chị Dê có bao nhiêu đường đi, bên đường có nhà nào, có nương rẫy của ai, tập trung hỏi sâu xem có ai gặp Chao không. Đồng thời phải "bốc" ngay ông Páo lên xã đấu tranh, để phát hiện mâu thuẫn với lời khai của Chao.
Gần 23h, giao liên cưỡi ngựa về huyện, cầm theo một tập lời khai. Tổ xét hỏi cắm đầu đọc, gạch ra các chi tiết quan trọng. Đây rồi, trưa ấy có người trông thấy hai bố con Chao vác theo vật gì dài dài như đòn gánh, cuốn trong lớp vải. Bản thân ông Páo khai "lệch" hẳn Chao về lịch trình sử dụng thời gian… Khoét sâu vào các mâu thuẫn, Chao toát mồ hôi. Đến 3h sáng thì không "chịu được nhiệt", bắt đầu khóc sụt sùi và lầm rầm kể lể: Trong dòng họ, Chao phải gọi chị Dê bằng cô, nhưng hai nhà từ lâu đã ghét nhau. Cách đây mấy năm, trong bản kháo nhau là chị Dê có phép "thả ma". Người ta tin rằng "bùa" được yểm vào nhà ai, thì nhà đó gặp họa, thậm chí có người chết. "Bùa" có thể làm bằng tóc rối, giẻ rách và một ít gạo đã được phù phép, bọc vải bên ngoài. Khi "yểm", lựa đêm không trăng, bí mật chôn "bùa" ở trước cửa nhà người muốn hại. Tháng trước cả 3 đứa em Chao lăn đùng ra ốm, lại thêm con trâu leo dốc trượt chân lăn xuống vực. Hoảng hốt, ông Páo kiếm gà trắng sống thiến mang sang nhà thầy mo Dơ đặt lễ. Hôm sau thầy mo đến, bảo giết lợn để cúng ma. Thủ tục xong xuôi, ông Dơ chém mạnh con dao tông xuống bậu cửa, thắp hương lầm rầm khấn "thổ địa", hỏi xem có phải chị Dê "thả ma" nhà ông Páo không. Sau đó Dơ đặt quả trứng lên sống dao. "Quả trứng đã xoay tròn rồi đứng yên trên sống dao cả giờ đồng hồ" - Chao kể. Bên bếp lửa ngay đêm ấy, ông Páo gọi Chao lại và bảo: "Cái ma hại nhà mình rồi, tao già chết chẳng sao, nhưng còn các em mày phải chết thì khổ lắm. Mày là con cả, bụng mày nghĩ phải làm sao?". Chao tần ngần. Thù thì thù lắm rồi, nhưng biết phải làm thế nào. Chị Dê là người bà con, giết đi cũng sợ bị tội, nhưng không giết thì con ma sẽ vật chết cả nhà mình. Thấy con lưỡng lự, ông Páo động viên: "Chúa sinh ra người tốt thì để nuôi, sinh ra người xấu thì để giết thôi!". Nghĩ một lúc rồi Chao nói to quả quyết: "Giết thì giết, mai để tôi đi bắn nó cho!". Ông Páo bảo: "Mày với bố mang hai súng đi. Mày bắn trượt thì bố bắn tiếp"…
Khi tôi dừng bút, 3 tờ biên bản ghi lời khai đã kín chữ, đồng hồ đã chỉ sang con số 5. Đợi sáng chút nữa, chúng tôi dẫn giải Chao lên núi để chỉ địa điểm giấu khẩu súng còn lại…