Đờn ca tài tử Nam bộ:

Cuộc chơi cũng lắm công phu

Đối với người dân Nam bộ thì âm nhạc tài tử, phong cách tài tử không phải là điều gì xa lạ, bởi cái lẽ dễ hiểu là họ đã tiếp xúc, đã thưởng thức, đã say mê "món" nghệ thuật này kể đã hàng trăm năm nay. Nhưng đối với người nghe, người xem miền Trung, miền Bắc, nhất là khán thính giả lần đầu tiên thấy nó trên tivi thì không khỏi có chút ngỡ ngàng trước cái mình xem, mình nghe so với cái mình hình dung, suy diễn căn cứ vào tên gọi của nó...

Cũng phải nói rằng, cho đến nay, chúng ta chưa có một chuyên khảo về âm nhạc Tài tử, ngoại trừ một công trình khoa học mang tính ứng dụng của tác giả Huỳnh Khánh "Đờn ca Tài tử Nam bộ" và cũng chỉ giới hạn trong địa giới Cà Mau, Bạc Liêu. Những tư liệu mà ta có được phần lớn được tìm tòi về nguồn gốc hình thành nghệ thuật sân khấu cải lương chính thống khởi thủy từ lối "ca ra bộ", mà ca ra bộ tức là ca Tài tử có "ra bộ", tức là thêm điệu bộ, động tác chân tay, có tính cách "diễn trò". Mặc dù vậy, những cứ liệu gián tiếp đó cho thấy một lược trình hình thành âm nhạc và phong cách diễn tấu Tài tử theo hai bước:

1- Khoảng giữa thế kỷ XIX, phong trào "đờn ca" phát triển rầm rộ ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Trước đó, theo các học giả Nam bộ, sinh hoạt âm nhạc trong dân gian chỉ có dàn nhạc Lễ, gồm hai thành phần: Phe Văn và phe Võ.

Phe Võ chủ yếu là các nhạc khí bộ gõ (trống, thanh la…) và cây kèn.
Phe Văn chủ yếu là các cây đàn (cò, gáo) thêm ống sáo và song lang.

Dàn nhạc Lễ chỉ được sử dụng trong các dịp Quan, Hôn, Tang, Tế, thường nhất là Tang và Tế. Ở những lễ nhỏ hơn như Tân gia, Thôi nôi…, gia chủ chỉ mời phe Văn, nghĩa là nhóm "đờn cây" đến gọi là giúp vui. Do mục đích giúp vui, trước một đối tượng không phải là "dân sành điệu", một yêu cầu nảy sinh là phải có cả ca chứ không thể chỉ có đờn. Thế là bắt đầu có chuyện "đặt lời" vào những làn điệu nhạc Lễ vốn là khí nhạc thuần túy. Rồi ca "Xàng xê, Long ngâm…" dần dần trở thành quen thuộc. Mặt khác, do đến đây nhóm "đờn cây" không phải "làm nghề" nhạc lễ, họ chơi lấy vui, giúp vui, họ chơi... tài tử.

2 - Khoảng hai thập niên cuối cùng của thế kỷ XIX, có hiện tượng nhiều  nhạc công dàn nhạc cung đình Huế di cư vào Nam, mà điển hình là ông Nguyễn Quang Đại (Ba Đợi). Ông Nguyễn Quang Đại, theo nhà Huế học Hồ Tấn Phan - là "nhạc quan" trong triều Tự Đức. Ông đã truyền bá ca nhạc Huế và được suy tôn như một "hậu tổ" của ca nhạc Tài tử.

Cũng phải nói rằng không phải chỉ từ khi có Nguyễn Quang Đại và đồng nghiệp đồng hành với ông vào Nam, người dân Nam bộ mới biết đến ca nhạc Huế. Trước ông đã có những người quê Nam bộ ra Huế học đàn ca đem về phổ biến ở quê nhà, như "cậu Tôn" (Tôn Thọ Tường). Nhưng dù thế nào thì đến đây, có thể nói, phong trào "đờn cây" đã có một sự tiếp xúc rất lớn của ca Huế: Nó được bổ sung về phần ca và tăng cường về phần đờn. Và cũng từ đây, phong trào "đờn cây" đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử. Nó hòa đồng với ca Huế để tạo nên loại hình "ca nhạc mới", loại hình "Đờn ca Tài tử".

Tuy nhiên trong cách thưởng thức khác nhau và đối tượng xem, nghe cũng khác nhau nên trong dàn nhạc Đờn ca Tài tử cũng có một số giản biên để phù hợp với cốt cách của người bản địa.

Đây là phương thức vận dụng chủ yếu vào dàn nhạc. Biên chế một dàn nhạc tài tử "rườm rà" nhất cũng không vượt quá biên chế riêng của phe Văn trong nhạc Lễ, và lại càng không thể so sánh với một dàn Tiểu nhạc cung đình Huế. Lý do không phải vì ý thức tiết kiệm nhân lực, mà thực chất là những yêu cầu nghệ thuật. Âm nhạc Tài tử xem trong một cách cân xứng cả thanh nhạc (ca) và khí nhạc (đờn). Mà ca Tài tử chủ yếu là đơn ca, nhiều lắm là đôi ca, chứ không đồng ca hay hợp ca. Vì vậy, để hòa hợp âm lượng giữa ca và đờn, không thể cùng một dàn nhạc biên chế lớn. Mặt khác, tài tử sở trường về những bài bản điệu thức Nam rất cần những âm thanh luyến láy… Chính vì những yêu cầu nghệ thuật đó ta thấy trong dàn nhạc Tài tử không có trống kèn của phe Võ nhạc Lễ, không có những nhạc khí bộ gõ của Tiểu nhạc. Dàn nhạc điển hình của Tài tử là một bộ tứ: kìm, cò, tranh, độc. Nếu sang hơn nữa, bộ tứ trên có thể trở thành "ngũ tuyệt", cây thứ năm sẽ là Tỳ bà hoặc tiêu hay sáo. Chỉ sau này dàn nhạc tài tử mới tiếp nhận thêm cây xến và cây ghi ta việt đến từ dàn nhạc sân khấu Cải lương.

Phương thức giản biên còn được biểu hiện qua cách sắp xếp vị trí ưu tiên của nhạc khí. Nếu ở ca Huế, cây đàn tranh đóng vai trò trụ cột, ở nhạc Lễ phe Văn là Cò thì nhạc Tài tử vai trò ưu tiên lại dành cho đàn kìm và chính nhạc công đàn kìm cũng đồng thời là chân song lang.

Các bài bản phổ biến nhất trong nhạc Tài tử là 20 bài bản tổ (còn gọi là nhị thập huyền tổ bản) thuộc hai điệu Bắc và điệu Nam. 20 bài bản tổ gồm có 7 bản lễ, 6 bản Bắc, 3 bản Nam và 4 bản Oán. Tương truyền rằng các bài bản này do ông Ba Đợi đúc kết và được xem như là những bài căn bản cho những người bắt đầu bước vào lĩnh vực nhạc Tài tử. Một trong những bài bản nổi tiếng trong đờn ca Tài tử là bản "Dạ Cổ Hoài Lang" - nghĩa là đêm khuya nghe tiếng trống nhớ chồng - do nhạc sĩ Cao Văn Lầu ở Bạc Liêu sáng tác vào năm 1917. "Dạ Cổ Hoài Lang" là bài hát được phát triển dựa trên bài "Hành Vân" của ca Huế. Lời ca của bài hát này được sửa nhiều lần bởi các nghệ sĩ như cô Ba Vàm Lẻo, ông Nguyễn Tử Quang, ông Trịnh Thiên Tư và được đổi tên là "Vọng Cổ Hoài Lang", rồi được đơn giản hóa thành "Vọng Cổ". Từ năm 1945, ông Giáo Thinh tức Nguyễn Văn Thinh, một nhạc sư có uy tín tại Sài Gòn đã đúc kết và phổ biến một hệ thống mới gọi là 72 bài bản cổ nhạc miền Nam (còn gọi là thất thập nhị huyền công). Theo đó, một nghệ nhân được công nhận là bậc thầy nếu biết hết 20 bài bản tổ; và để đạt mức cao siêu hơn, nghệ nhân đó cần biết hết 72 bản này.

Ở vùng Nam bộ sông nước, không gian hữu tình, đa số những người chơi Tài tử là những người biết cái chữ rồi sau những ngày mùa vất vả, họ tụ hợp lại chơi để vui, để bày tỏ tình cảm với nhau. Từ đó tạo thành nét đặc trưng của lối chơi Tài tử, bởi đây là loại hình nghệ thuật đơn giản, không hoa mỹ, cầu kỳ, thích hợp với mọi tầng lớp "Sĩ, nông, công, thương".

Như vậy, loại hình Đờn ca Tài tử ra đời đáp ứng và được sự ủng hộ của nhiều người. Có nhiều người cho rằng "Tài tử" là không chuyên nghiệp, chơi để vui, để giải trí, không lấy lời ca, tiếng hát làm kế sinh nhai; cũng lại nói rằng "Tài tử" là người có tài, người này cũng phải ham mê nghệ thuật, phải theo thầy học từng âm nhấn, giọng láy… Phải ca sao cho mùi, và tạo cho mình một phong cách riêng. Vì vậy, muốn trở thành một người đờn ca tài tử đúng nghĩa phải trải qua một thời gian luyện tập khá công phu.

Đờn ca Tài tử nay được tổ chức rộng rãi hơn vào các dịp đình, đám có, nhóm Tài tử trình diễn làm cho không khí vui và mang đậm nét quê hương. Tại các khu du lịch, loại hình này cũng được thực hiện. Du khách đến tham quan thưởng thức ẩm thực Nam bộ, nhâm nhi chén rượu nghe Đờn ca Tài tử thì không khỏi chạnh lòng, luyến lưu vùng đất thân thương, nơi đã sản sinh ra cái hay cái đẹp cho đời - đó là Đờn ca Tài tử

Hoàng VIệt

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).