Cuộc cãi lộn với chính mình dai dẳng

Nhà thơ Đỗ Nam Cao sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, nhưng gắn bó thâm sâu với Sài Gòn. Mảnh đất phương Nam cho ông nguồn cơn sáng tạo và cũng cho ông hệ lụy ưu phiền. Thi ca đã dắt dìu ông qua thăng trầm và thi ca kết nối ông với bạn bè. Không có thi ca và bạn bè, chắc chắn Đỗ Nam Cao không còn là Đỗ Nam Cao nữa. Vì vậy, di sản thi ca của Đỗ Nam Cao xứng đáng được bạn bè lưu giữ và trân trọng.

Về nội dung, thơ Đỗ Nam Cao có ba mảng đề tài chủ đạo, cội nguồn cố hương, ký ức người lính và hiện thực day dứt. Về bút pháp, thơ Đỗ Nam Cao có hai giai đoạn, một giai đoạn bày tỏ cảm xúc bằng vần điệu trữ tình, một giai đoạn tương tác đời sống bằng thi ảnh ấn tượng. Cho nên, thế giới thơ Đỗ Nam Cao có cá tính mạnh mẽ và giọng điệu đa dạng.

1 do nam cao.jpg -0
Nhà thơ Đỗ Nam Cao (1948-2011) qua nét vẽ Tân Quảng.

Mang thân phận kẻ tha phương, cội nguồn cố hương trong thơ Đỗ Nam Cao “Nghe cuồn cuộn chảy mạch làng/ Trong ràng rịt rễ những hàng tre xanh”. Chốn cũ cho ông sự an ủi lúc chia xa “Mẹ tôi trăng trối mấy lời/ Nhìn tôi khôn lớn nhẹ cười rồi đi/ Thế là hết chẳng còn gì/ Nâng tôi đôi cánh trần xì là tôi/ Bao nhiêu cay cực ở đời/ Bao lần vấp ngã bao lời xỏ xiên/ Người nghiêng cái bóng cũng nghiêng/ Đỡ tôi đứng thẳng lại riêng có người/ Tôi đi cuối đất cùng trời/ Luôn luôn có một nét cười sau lưng” và chốn cũ cho ông sự thảng thốt ngày trở lại “Đã biết bao lần xa tết mẹ/ Con đi biền biệt chẳng khi về/ Xuân này mới giật mình thấy sợ/ Nếu con về là khách của quê”. Và ông nối với chốn cũ bằng sợi dây tâm linh bền vững: “Những tưởng thôi về thăm khổ/ Giờ đi lòng bớt nguy nan/ Dẫu tít xa làng đâu nỡ/ Chùa cong mái đỡ thời gian”.

Ký ức người lính Đỗ Nam Cao khi bước vào cuộc chiến tranh, là sự ân cần nhận đất đai tiền phương làm quê nhà. Những bài thơ viết cuối cuộc kháng chiến chống Mỹ hoàn toàn đủ để tạo nên một chân dung thi sĩ - chiến sĩ Đỗ Nam Cao. Đó là khoảnh khắc qua sông Sài Gòn: “Dòng sông bỗng hiện ra trước mặt/ Tôi đặt chân lên con thuyền chòng chành muốn lật/ Ôi dòng sông như mọi dòng sông/ Mà có gì đau đáu, mênh mông…/ Thôi con thuyền đã cập bến rồi/ Chào sông nhé, dòng sông ơi tạm biệt/ Ta đạp lên trăm vòng gai thép giặc/ Vẫn cứ nghe rì rầm mạch nước dưới bàn chân”. Đấy là khoảnh khắc gặp gỡ đất miền Đông Nam bộ “Đêm dung dị lạ lùng ở đây/ Quầng pháo sáng chụp vào đêm Trảng Cỏ/ Chợt lóe lên cái chấm mầu rất đỏ/ Trái ớt hiểm con chỏ thẳng lên trời” hoặc “Hỏi em… cha mẹ mất rồi/ Miếng cơm bỗng nghẹn, câu cười bật ra/ Em nhìn tôi cứ xuýt xoa/ Tôi nhìn em nghĩ về xa những ngày”.

Câu chuyện vùng ven Sài Gòn thời bom đạn xuất hiện dày đặc và trìu mến trong thơ Đỗ Nam Cao. Từ thái độ dâng hiến “Khi tình yêu mở ra trong vắt/ Dáng bông lúa cong như cái cầu vồng”, Đỗ Nam Cao đã nhìn ra vẻ đẹp ở những địa danh Trảng Bàng, Lộc Ninh, Tân Biên. Không chỉ là sự quan sát “Từ vùng ven nhìn ra/ Màu xanh, xanh, xanh quá/ Chìm sâu trong mặt lá/ Sắc nhựa hồng máu ta” mà còn là sự tin cậy “Tiếng xay lúa gọi mùa cày thức dậy/ Cho những vòng xoay nối tới tương lai”.

Không chỉ là sự cam go “Ngày đêm bốn phía giặc rình/ Muốn ca lên cũng để tình lặng thôi/ Xôn xao là cánh rừng chồi/ Trời đêm trở gió đứng ngồi xôn xao” mà còn là sự lạc quan đơn lẻ “Ở dưới hầm/ Có nhiều điều bình thường bỗng rung lên trăm vẻ/ Giọt nước rỉ ra từ rễ cây cũng đậm đà hương vị/ Uống cái đắng chát này để thấy được thơm ngon” và sự gần gũi lớn lao “Tôi nhận ra nhân dân của tôi rất rõ/ Khi nép vào lồng ngực mẹ ốm o.../ Con muốn thiêu cái đồn này ra tro/ Để soi gương mặt cười của mẹ”. Không chỉ là sự thán phục “Người vỡ đất là em. Gieo hạt/ Là em. Gặt hái cũng là em/ Đánh giặc là em lại cao tiếng hát/ Yêu biết bao nhiêu cô gái vùng ven” mà còn là sự hân hoan “Đi bên em không nói/ Vòm cây chòm sao rung/ Trái sầu riêng chín rụng/ Thơm như từ đất lên”.

Sau khi non sông thống nhất, thơ Đỗ Nam Cao tiếp tục phô diễn nét tài hoa “Mùa đông như ướp lửa/ Lên mặt lá bàng xanh”. Thế nhưng, những cảm hứng hào sảng dần được thay thế bằng những ánh mắt băn khoăn. Đỗ Nam Cao thoát ra khỏi những ám ảnh khói lửa để ngụp lặn trong hiện thực day dứt: “Sài Gòn mùa gió lá bay cuồng lên nhớ/ Thu đã thu rồi/ Mưa phùn hay là khóc/ Hay tiếc nuối thở than hay ước mộng muộn màng”. Đô thị lớn nhất phương Nam, nơi đã cho Đỗ Nam Cao một mái ấm cùng nhiều ngổn ngang, đã thúc giục ông phải soi rọi xã hội thấu đáo hơn.

Sài Gòn đâu chỉ có phồn hoa mơ mộng, Sài Gòn có góc khuất lam lũ khiến ông dằn vặt: “Còn những gốc me nơi thường trú người nghèo/ Hàng núi tin đồn dồn về thành phố/ Trong xoáy lốc những ưu tư nghèo cực âu lo/ Đường phố rực vàng hoa lim sẹt”. Nhờ sự lãng mạn vốn có, Đỗ Nam Cao nhìn ba cây vông cụt ngọn chết khô trên đường Nguyễn Thị Minh Khai để bần thần về nhịp điệu phát triển nhiều thử thách: “Cùng ta dạo chơi ba cây tức tưởi/ Say mềm ngả lưng ngửa nằm cùng ta/ Cuồng nộ khô da ba cây cụt ngọn/ Ba thanh nóng nhọn nhúng vào thơ ca”.

1 tap tho do nam cao.jpg -1
Tập thơ “Hỡi cô cắt cỏ” của Đỗ Nam Cao.

Chứng kiến sự đổi mới đất nước, Đỗ Nam Cao cũng tự đổi mới thơ mình “Thơ tôi phát khóc/ Mỗi khi chực cười”. Ông khước từ những mơn trớn, ông dẹp bỏ mọi những du dương, ông xóa sạch những ẩn dụ. Đỗ Nam Cao mong muốn thơ ông phải khác và thực sự thơ ông đã khác: “Thơ tôi lộn đầu xuống đất/ Giơ chân lên đỡ sao trời/ Thơ tôi trái điều lộn hột/ Bao nhiêu tinh chất phơi ngoài”. Đỗ Nam Cao đổi mới thơ, không phải vì chạy theo những thanh âm tân kỳ hay những trường phái cách tân. Ông đổi mới thơ vì ông nhạy cảm nhận diện được những sự thật bủa vây thơ: “Cái thời đầy ứ ự thông tin/ Bộ lọc ta quen một chiều một cửa/ Có tin vui lại ngỡ tin buồn/ Đời sống động bỗng thấy đời phát sợ”.

Thơ ông không còn là những tiếng ru theo thói quen nữa, mà là tiếng ru mở rộng biên độ sang những miền tâm tưởng xa xôi: “Người mẹ nằm ru con/ Chim sẻ ru mái ngói/ Mái ngói ru trời xanh/ Trời xanh ru hiểm họa”. Thơ ông xoa dịu ngậm ngùi riêng tư “Có lẽ sẽ còn lần vấp ngã/ Rượu bóp xoa rượu đã ngấm sâu/ Lòng nguyên vẹn mái đầu xưa đã chợt/ Bạc âm thầm những sợi buồn đau” và can đảm đối diện bẽ bàng “Không thể vượt lên số phận nghiệt ngã/ Cõi âm dương nằm giữa lòng tay/ Anh có thể là hồn ma bóng quế/ Hù dọa em trong mộng mị đêm đêm”.

Thơ Đỗ Nam Cao vượt lên bi kịch của cá nhân “Một vụ nổ nội tâm/ Nhiều vụn vỡ âm thầm/ Sẽ còn đau đớn nữa/ Sẽ còn mất mát hơn” để chọn lựa thái độ rõ ràng “Khóc một mình nuốt ực/ Cười một mình bật rên”.

Thay đổi bút pháp, thơ Đỗ Nam Cao trọng ý hơn trọng tứ, trọng chữ hơn trọng nghĩa. Ông không còn bận bịu đến sự tròn vẹn của một bài thơ mà chủ đích đưa ra một hình ảnh đi thẳng vào lòng công chúng: “Ta quên mình đã có một thời/ Đã đốt hết một thời lên thành lửa/ Trong xác lá phủ dầy ai biết nữa/ Hương tro còn ngần ngận ở đâu đâu”. Nhà thơ Đỗ Nam Cao thừa khả năng sử dụng ngôn từ mềm mại và hoa mỹ, nhưng ông lại dùng những chữ khô cứng hơn và dân dã hơn để tạo cảm xúc mới mẻ hoàn toàn. Ví dụ, chữ “sái hai” gây sinh động “Tình yêu không có sái hai/ Anh kiếm tìm và gặp/ Em tinh khôi ban mai kiều ngọc/ Cỏ mơn chân sóng đê phù sa”...  Thi ảnh ấn tượng của Đỗ Nam Cao mang lại một dáng vẻ khác cho con cò trong thi ca Việt Nam: “Thương cò cò đứng một chân/ Đứng một chân cò mỏi gân không cò/ Thương mưa dáng bước lò dò/ Thương nắng nứt ruộng cò hò khàn hơi/ Đẹp như mộng ở lưng trời/ Cò bay rát rạt mặt người ngửa lên”.

Thơ Đỗ Nam Cao những năm cuối đời, được ông tự thú “Cuộc cãi lộn với chính mình dai dẳng/ Như lửa thiêu như rượu đốt chính mình”. Thế nhưng niềm lơ đãng và nỗi bịn rịn của ông đã giăng mắc những câu thơ xao xuyến “Gió rẽ một đường sen/ Ru thơm chiều mơ mộng” hoặc “Em ru bằng ngực biển ru bằng bờ”. Và cho dù nhà thơ Đỗ Nam Cao đã vĩnh biệt cõi trần gian vào ngày 8/11/2011 thì thơ ông vẫn nhắc nhớ về những ngày ông đã sống với thi ca và bạn bè: “Nhưng vẫn còn một chút gì thăm thẳm/ Bừng sáng lên đường sấu mỗi ban mai/ Từng chùm quả mắt nhìn chua cả gió/ Thổi lang thang suốt tháng năm dài”.

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).