Con cóc có là… cậu ông giời!

Tại sao một con vật nhỏ bé xấu xí, sần sùi đúng nghĩa “cóc cáy” thường sống nơi xó bếp ẩm thấp hay nơi tối tăm hôi hám hoặc bụi cây gốc dứa ngoài vườn... lại được kính trọng là “cậu ông giời”? Đấy là trong thần thoại, truyền thuyết nửa hư nửa thực. Nhưng cả trong nghệ thuật hội họa sang trọng, hàn lâm (tranh Đông Hồ) cũng có một hình tượng chú bé xinh xắn, dĩnh ngộ ôm con cóc tía?

Trong tín ngưỡng thì con cóc còn được coi là biểu tượng của sự giàu có, vương giả khi nhiều gia đình, nhất là những hiệu buôn có tượng con cóc thật to ngậm đồng tiền và gọi một cách kính trọng là “Thiềm thừ”. Lại có người còn kính cẩn thắp hương trước tượng cóc! Hình tượng cóc còn có trên nắp thạp đồng Đào Thịnh, trống đồng Đông Sơn, trên những bức chạm gỗ ở những ngôi chùa cổ...

Còn trong đời sống tâm linh, nhiều nơi có tục “yểm” một con cóc còn sống xuống mộ người mới chết. Ông thầy cúng này bảo để cóc đưa linh hồn người chết lên với... giời, vì “cóc là cậu ông giời”. “Giời” mà không nhận hoặc rẻ rúng “hồn”, cóc sẽ cắn một phát là “giời” chết tươi!

Ông thầy cúng kia bảo có cóc thì “ma cũ” sợ không dám bắt nạt “ma mới”. Vì “giời” còn phải sợ cóc cơ mà!... Chả biết ông nào đúng nhưng người nhà cứ phải tìm bằng được một con cóc, dù sợ hãi hoặc khó tìm. Biết được điều ấy thầy cúng dặn trước đừng nói với ai là tìm bắt cóc còn đã nói ra mồm thì rất khó tìm. Quả đúng thế thật!

Tranh “Nhân Nghĩa”.
Tranh “Nhân Nghĩa”.

Nhưng ngay ở thành phố văn minh hôm nay người ta vẫn nghe thấy tiếng rao bán cóc. Có nhiều người mua về làm “ruốc” cho trẻ con ăn. Cũng chẳng phiền toái gì vì người bán làm luôn tại nhà. Quả thực, không biết có phải vì được ăn “ruốc” cóc hay không mà có đứa vốn đang sài đẹn mà phổng phao hẳn lên...

Thì ra con cóc không chỉ là một mã văn hóa mà còn là món ăn bổ. Nhưng trước hết nó là bạn của nhà nông, gần gũi với nông dân, ăn sâu bọ hại cây trồng giúp nông dân. Lam lũ như nông dân. Trẻ con nhà quê thời trước đều thấy đang cơn mưa rào như trút nước thì những chú cóc, đủ cỡ to có nhỏ có, có cả những con cóc cụ lặc lè nhảy ra vồ mối để ăn. Hiền lành, lương thiện như nông dân.

Chẳng bao giờ thấy cóc bắt nạt con nào, cứ nhẫn nhịn một mình lang thang. Con vật khác chẳng sợ nhưng cũng có gì đấy tỏ ra kính trọng cóc, dù đó là chú gà trống oai vệ, là chú chó tinh ranh... Chưa đủ dữ liệu để khái quát cóc là biểu tượng cho người nông dân nhưng rõ ràng đây là con vật khá đặc biệt trong đời sống thôn quê thuở xưa.

Lại có thành ngữ “Gan cóc tía” chỉ sự gan góc, lì lợm, dám đương đầu với thế lực lớn hơn. Thành ngữ này là sự minh họa cho một truyện ngụ ngôn cùng tên. Truyện rằng có chú cóc tía nọ rất ghét cọp hay bắt nạt kẻ khác bèn nghĩ kế trị cọp. Một hôm gặp cọp, cóc bảo “Tao là cậu ông giời. Mi phải nghe tao nếu không tao bảo giời quật chết".

Cọp hồ nghi đòi thử tài chạy nhanh. Khi bắt đầu chạy cóc ngoạm chặt vào đuôi cọp, đến đích cọp vẫy đuôi thì cóc đã ở trước mặt. Cọp kinh ngạc bỏ chạy. Gặp khỉ, cọp kể sự tình. Khỉ bảo cột khỉ lên lưng cọp cùng đến chỗ cóc. Thấy thế cóc bèn quát lên sao mang mồi đến chậm đến nỗi phải vừa ăn thịt một con cọp khác. Nói xong cóc rẩu miệng vẫn còn một túm lông cọp. Kinh sợ tột độ, cọp bỏ chạy thục mạng đến nỗi khỉ chết nhăn răng trên lưng. Từ đấy cọp và khỉ rất sợ cóc...

Tại sao con cóc phong thủy (thiềm thừ) lại chỉ có ba chân. Truyện “Sự tích con thiềm thừ” khá thú vị: Có con cóc tu luyện ngàn năm đã thành tinh, phép thuật cao cường thường quấy nhiễu, làm hại dân lành. Triều đình sai binh hùng tướng mạnh diệt trừ tinh cóc nhưng bị nó hoá phép làm trời nghiêng đất lở, cây đổ rừng cháy, âm binh từ dưới đất kéo lên đông như kiến. Tinh cóc còn kéo quân về tận kinh đô uy hiếp triều đình. Vua vội lập đàn khẩn cầu Ngọc Hoàng cứu giúp.

Ngọc Hoàng sai tiên ông Lưu Hải xuống trần hàng phục yêu quái. Tiên ông tung sợi dây ngũ sắc trói chặt bốn chân tinh cóc. Nó giẫy giụa nên bị sợi dây thít chặt đến nỗi một chân bị đứt lìa. Tinh cóc đành cúi đầu xin hàng rồi trở thành đệ tử của tiên ông thành tâm sám hối chuộc tội. Từ đó nó làm nhiệm vụ giải trừ hung khí, biến nguy thành an, cứu giúp dân lành.

Dần dần cóc trở thành biểu tượng Lưỡng Nghi, lưng cõng chòm sao Bắc Đẩu, miệng ngậm đồng tiền, hai bên mình có hai xâu tiền, chân đạp trên lớp tiền hoặc bao tiền với ý nghĩa mang lại tài lộc, bình an, may mắn cho gia chủ. Dân gian gọi là “thiềm thừ” và đặt tại ban thờ Thần Tài, Thổ Địa, để cầu mong tài lộc.

Vì lấy vợ rất tốn kém và quá khó khăn nên học trò nghèo ngày xưa rất thích đọc truyện cổ tích “Lấy vợ cóc”. Cũng không loại trừ truyện này do chính các chàng viết ra hoặc nhuận sắc thêm cho ly kỳ. Truyện kể chàng học trò gặp cóc vốn là con gái vợ chồng phú ông rồi mê mà lấy cóc làm vợ. Đám học trò chế giễu bằng cách tổ chức cuộc thi mỗi trò phải để vợ dọn mâm cỗ cho thầy chấm. Chỉ trong chớp mắt, cóc mời các cô tiên làm hộ với bao món sơn hào hải vị thơm phưng phức.

Minh họa truyện cổ tích “Cóc kiện trời”.
Minh họa truyện cổ tích “Cóc kiện trời”.

Thua cuộc, đám trò bàn nghĩ ra kế thi may quần áo cho thầy. Cóc bèn biến thành một con ruồi bay theo chồng bám vào cổ áo thầy để lấy số đo... Cuối cùng là thi vợ đẹp. Lúc này cóc phải hiện nguyên hình là cô tiên... Đám học trò chỉ còn biết nuốt nước bọt mà thầm ghen tỵ với người bạn nghèo!

Môtip người đội lốt vật hay lấy vợ là con vật vốn rất phổ biến trong cổ tích châu Á. Vì đơn giản đó là những con vật gần gũi, thân thuộc nên dân gian mượn chúng làm hình tượng văn chương để gửi gắm khát vọng của mình về tình thương loài vật, nhắn nhủ ở hiền gặp lành, con người phải biết thương yêu, tôn trọng, trân trọng các chúng sinh.

Hơn nữa con vật còn dự báo thời tiết cho người nông dân như ếch, nhái, cóc nghiến răng hay kêu ran là sắp mưa... Mà làm ruộng, nhất là lúa nước rất cần nước nên các con vật ấy trở thành vật linh để rồi bước vào thế giới tín ngưỡng của con người thành một chủ đề riêng: tín ngưỡng thờ động vật. Ngày nay “phê bình sinh thái” (xuất xứ từ phương Tây đã và đang “nhập cảng” vào Việt Nam) kêu gọi con người quay trở về với thiên nhiên thân thuộc với muôn loài... Thực ra thì những điều ấy đã có trong tín ngưỡng cổ xưa này!

Tất nhiên phải kể đến câu chuyện “Cóc kiện trời” ai cũng biết. Con cóc ở đây có đầy đủ phẩm chất cần thiết của một “trang nam nhi” làm cuộc “cách mạng”: khả năng tập hợp lực lượng (cọp, cua, gấu, sói...); có ý chí (lên tận giời); có tấm lòng nhân hậu thủy chung (thương người vì không có mưa để làm ăn); có năng lực chỉ huy (tổ chức dàn quân đâu ra đấy); dũng cảm (dám chống lại “giời”); thông minh (tìm ra điểm yếu của đối phương)... Đúng như một thành ngữ người Việt “Oai như cóc”! Đến đây ta hiểu thêm vì sao trong tranh Đông Hồ bức tranh đứa trẻ ôm cóc lại được tên là “Nhân Nghĩa”. Đó là lời cầu chúc, là khát vọng, là ước mơ mong sao đứa trẻ có được những phẩm chất như... cóc! 

Nhìn ra các nước thì tùy vào điều kiện canh tác, sản xuất mà mỗi nơi loại nhân vật này là con cóc, là con ếch hoặc nhái như Miến-điện (Myanmar) có truyện “Nàng Nhái”. Pháp và Thổ Nhĩ Kỳ, Phần Lan, Ác-mê-nia… thì chung mô tip nhân vật Hoàng tử hoặc công tử con nhà giàu lấy vợ nhái. Đức có truyện “Hoàng tử lấy cóc”. Nước Nga có truyện “Công chúa ếch” nổi tiếng với nhân vật Hoàng tử cưới ếch làm vợ... Hầu hết các truyện đều có cốt giống nhau với các tình huống gặp gỡ, thử thách và cuối cùng sống hạnh phúc, giàu sang, phú quý.

Có hai nhóm ý nghĩa rất đáng lưu ý là chi tiết “đội lốt” và trở thành người vợ đẹp. Tại sao phải đội lốt con vật xấu xí, nhỏ bé, đáng thương như ếch, nhái, cóc... mà không phải các con vật đẹp đẽ khác. Trước hết đây là nguyên tắc kết cấu rất phổ biến của cổ tích là phân cực đối lập. Nhân vật cũng thường được xây dựng như vậy: cực tốt (Thạch Sanh, cô Tấm...), cực ác (Lý Thông, Cám); cực hiền lành tử tế (người em), cực tham lam (người anh – truyện “Cây khế”).

Trong loại hình nhân vật “đội lốt” này thì trước cực xấu, hèn hạ sau cực đẹp, vương giả. Đây còn là một quan niệm mỹ học: Không phải cứ xấu là đáng khinh, đáng chê, mà có khi đấy là ngọc là ngà... Thứ nữa là rất đề cao vai trò của hôn nhân, chỉ qua hôn nhân cóc nhái mới trở thành người đích thực, đúng nghĩa. Hôn nhân như cái cửa bằng vàng để nhân vật mở ra bước vào cuộc sống hạnh phúc mới! Cố nhiên, đấy là quan niệm của cổ tích!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).