Cô Tấm không “dã man”?

Cái kết truyện “Tấm Cám” của ta, có lẽ không nên coi chi tiết “làm mắm” là “dã man”. Vài ba truyện cổ tích Pháp, Ả Rập, Tiểu Á, Bắc Phi... cũng có cái kết kiểu này: giết (mụ) phù thủy rồi làm mắm cho con mụ ta ăn. Đây là dấu vết của công lý cổ xưa: “Ăn miếng trả miếng”. Kẻ thù ác với (ta) thế nào, (ta) sẽ “trả lại” y như thế (cho đúng luật) và hơn thế (cho bõ hờn).

Trong “Tam quốc diễn nghĩa” có chi tiết ám ảnh, ở trận Hạ Bì, khi bị Tào Tính bắn tên trúng mắt trái, Hạ Hầu Đôn bèn hô to: “Tinh cha huyết mẹ, không thể bỏ đi được!”. Rút mũi tên kéo luôn cả con ngươi, Đôn đưa lên miệng nuốt chửng. Quân tướng cả hai bên rùng mình. Chưa kịp định thần, Tào Tính bị Đôn xông tới đâm chết. Rồi Đôn cũng ngã ngựa bất tỉnh… Ca ngợi sự dũng cảm vô song của một võ tướng, ẩn sau chi tiết này, tất còn nhiều ý nghĩa.

Sách kể thêm, khi còn ở với Tào Tháo, Lưu Bị một tối lạc vào nhà thợ săn tên Lưu An. Không có gì thết khách, người thợ săn bèn giết vợ. Sáng sớm, Bị xuống nhà dưới chào chủ nhà để đi, bỗng thấy xác một người đàn bà chết, cánh tay bị cắt hết thịt. Kinh sợ, hỏi ra Bị mới biết… Gạt nước mắt, Bị lên ngựa, An theo sau ngậm ngùi trần tình rằng lẽ ra cùng đi hầu ngài, nhưng còn mẹ già...

untitled-1.jpg -0
Cô Tấm có “ác” như ý kiến nhận xét của một số nhà nghiên cứu?

Đúng là hành vi vô cùng dã man. Hé ra một ý nghĩa: thời đó quý “minh chủ” hơn vợ con. Nhưng thờ “minh chủ” cũng chưa bằng trọng chữ “hiếu”. Truyền thống Nho giáo Trung Quốc đề cao chữ “trung”, chữ “hiếu” đến mức coi “chết đói” là việc “cực nhỏ”; các việc trái với “trung, hiếu, tiết, nghĩa” là chuyện “cực lớn”.

Trong “Nhị thập tứ hiếu” kể chuyện Quách Cự giết con nuôi mẹ. Gặp năm mất mùa, thấy mẹ già dù đói nhưng cứ nhường miếng ăn cho cháu, Quách Cự bèn quyết định giết con… Cho đến văn học thời Minh Thanh vẫn còn kể những “tấm gương” con cắt thịt mình cho cha mẹ ăn với mong muốn song thân trường thọ. Nhìn từ hôm nay, những hành động này cực kỳ phi nhân tính!

Nhưng mô típ này lại không xa lạ trong văn học trung đại Việt Nam, thậm chí quen thuộc. Truyện Nôm khuyết danh “Thoại Khanh - Châu Tuấn” kể Thoại Khanh, một người phụ nữ xinh đẹp, có tài văn chương, tiết nghĩa với chồng Châu Tuấn. Vì khước từ làm phò mã nên Châu Tuấn bị đày đi sứ 17 năm. Thoại Khanh và mẹ chồng đi tìm Châu Tuấn qua bao hiểm nguy nơi rừng sâu, nước độc. Con dâu thương mẹ tuổi già gặp đói, đã “lóc” thịt tay mình cho mẹ ăn.

Chi tiết này cũng có trong vở chèo cổ “Trương Viên”. Ra trận chống giặc, Trương Viên dặn vợ Thị Phương đưa mẹ về quê lánh nạn. Trên đường đi vất vả, cực khổ, người con dâu hiếu thảo nhịn đói nhường cơm cho mẹ; phải tế cho hung thần cặp mắt mình để cứu mẹ. “Học nghề đàn hát kiếm ăn qua ngày”, Thị Phương “Nuôi mẹ chồng, cắt thịt cánh tay”... Đó là những điển hình cho chữ “hiếu”!

Rất có thể những chi tiết trên chịu ảnh hưởng từ Phật giáo. Kinh Phật dạy: “Các Bồ Tát vì tất cả chúng sinh, (đã) làm những (việc) khổ hạnh khó làm, (như việc) hiếu dưỡng cha mẹ, (có vị đã) dâng thân thể huyết nhục”. Truyền thuyết kể tiền kiếp Đức Phật Thích Ca là một Thái tử, khi còn nhỏ tuổi đất nước sa vào tình cảnh điêu linh bởi giặc giã, “Ngài” đã tự cắt thịt mình để cha mẹ qua cơn đói. Tấm gương hiếu hạnh ấy làm “kinh động” cả đất trời.

Như vậy, “cắt thịt” nuôi cha mẹ là một mô típ phổ biến trong văn hóa châu Á cổ với mục đích giáo huấn về chữ hiếu. Phải thờ mẹ kính cha đến tuyệt đối, quên cá nhân mình, hy sinh thân thể, hạnh phúc để “báo đáp” các bậc sinh thành. Khi cha mẹ ốm hoặc chết, con (trai) phải “từ quan”, phải gác chuyện học hành, thi cử, hôn nhân…, phải xa vợ con ba năm làm nhà gần mộ cha/mẹ để hương khói… Đấy là những chuyện có thật trong lịch sử.

image001.jpg -0
Một số hình ảnh nghi lễ ma thuật của bộ tộc Aztec.

Lại có chuyện ngược lại: con cái ăn thịt bố mẹ. Những hành vi “dã man” này gần đây được phân tích kỹ bởi nhà động vật học Mỹ - ông Bill Schutt, Giáo sư trường Đại học Long Island University. Bắt đầu từ việc phản biện các quan điểm cho rằng tục ăn thịt người của bộ tộc Aztec ở Trung Mỹ (từ 1248 đến 1521) là do thiếu protein động vật, ông chứng minh việc đó mang “ý nghĩa hoàn hảo”.

Thực ra việc này không mới, có điều được ông Bill Schutt chứng minh một cách hệ thống. Trong các ghi chép về tín ngưỡng cổ xưa ở một số bộ lạc Nam Mỹ có nói về hiện tượng khi bố mẹ chết, với quan niệm thô sơ, con cái ăn thịt cha mẹ để tỏ lòng kính trọng: bố mẹ mãi mãi ở trong người mình (!?). Vẫn có thể hình dung, cách rất xa Trung Quốc nhưng tín ngưỡng này vẫn “vẳng” vào câu nói của Hạ Hầu Đôn trong “Tam quốc…”.

Ông Bill Schutt khẳng định “ăn thịt đồng loại” chỉ có trong quy luật tiến hóa động vật cấp thấp, nhưng ở một số loài cũng đã “văn minh”, như “Hổ dữ không ăn thịt con”. Hãy tin ở con người. Là động vật cấp cao, nếu con người làm việc đó, chỉ là do tín ngưỡng. Ngoài bộ tộc Aztec, người Fore cổ ở Papua New Guinea và nhiều tộc người khác cũng có tục ăn thịt gia quyến mới chết, để “lưu giữ linh hồn anh em trong người sống”. Hiếm có trường hợp cố tình.

Như ở Trung Hoa cuối đời nhà Thương, Chu vương ra lệnh băm nát kẻ thù, nấu chín, dâng lên bàn thờ tổ tiên, rồi tất cả ba quân cùng ăn, để “tăng lòng quyết tâm”, thêm dũng khí ra trận. Đi vào văn chương, việc này được “thậm xưng hóa”, như trong “Hịch tướng sĩ” của Việt Nam (thế kỷ XIII), muốn “ăn gan uống máu” quân thù!

Chắc hẳn thời cổ xưa ấy không coi đó là dã man, theo lẽ tự nhiên, càng tiến gần về thời văn minh, con người càng thấy rõ hơn tính chất mông muội nguyên thủy. Người ta bèn lấy những câu chuyện đó làm phương tiện tố cáo, lên án cái ác, cái xấu. Trong văn hóa Trung Quốc có điển tích “bát canh” rất đáng chú ý: Hạng Vũ và Lưu Bang từng coi nhau như anh em để chống Tần. Tần bị diệt, họ lại mâu thuẫn muốn giết nhau. Trong một trận chiến, Hạng Vũ bắn trúng vai Lưu Bang. Lần khác Lưu Bang vây Hạng Vũ, Vũ bắt cha Bang lên mặt thành và nói Bang không rút sẽ cho cha vào nồi nấu canh. Bang nói: cha ta cũng như cha ngươi, nếu nấu cho ta bát canh.

Điển này đi vào thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm (trong bài “Cảm hứng”): “Sự quân thần bất thần/ Sự phụ tử bất tử/ Tạ kiên thị nhẫn vi/ Phân canh diệc võng quý” (Thờ vua, tôi chẳng ra tôi/ Thờ cha, con chẳng ra con/ Bắn vào vai, còn nỡ lòng làm/ Chia bát canh, không thấy thẹn), để lên án sự đảo điên của đạo lý “Tam cương” thời hiện tại.

“Thờ vua, tôi chẳng ra tôi”; quan hệ “cha con” thì “Thờ cha, con chẳng ra con”; quan hệ bạn bè thì “Chia bát canh, không thấy thẹn”. Chi tiết “bát canh” mỉa mai cay đắng những kẻ từng coi nhau như anh em rồi bất nghĩa tráo trở tàn hại lẫn nhau. Phải chăng hình tượng “bát canh” có bóng dáng tín ngưỡng từ cổ xưa nguyên thủy hắt về: khi cha mẹ chết phải nấu canh thịt cha mẹ để ăn mới là kính hiếu!

Đã là con người thì rất quý, sống đã quý, chết cũng quý. Lấy thân xác người chết làm thuốc chữa bệnh quả là không xa lạ với nhiều nền văn minh. Các nhà nghiên cứu lịch sử Đức (ông Anna Bergmann) và Anh (ông Richard Sugg) chứng minh ở châu Âu đến đầu thế kỷ 18 vẫn còn dùng bộ phận cơ thể người (thường là xác tử tù) làm thuốc. Nhà nhân học Mỹ Beth A. Conklin cho biết mãi đến năm 1896, ở Đan Mạch, còn lấy máu tử tù bị chém để chữa bệnh động kinh… Thì ra truyện “Thuốc” của Lỗ Tấn cũng có bóng dáng văn minh xa xưa rọi về (đầu thế kỷ XX): ăn bánh bao có tẩm máu người để chữa bệnh lao!

Soi những điều ấy vào cái kết truyện “Tấm Cám” của ta, có lẽ không nên coi chi tiết “làm mắm” là “dã man”. Một, vài ba truyện cổ tích Pháp, Ả Rập, Tiểu Á, Bắc Phi... cũng có cái kết kiểu này: giết (mụ) phù thủy rồi làm mắm cho con mụ ta ăn. Đây là dấu vết của công lý cổ xưa: “Ăn miếng trả miếng”. Kẻ thù ác với (ta) thế nào, (ta) sẽ “trả lại” y như thế (cho đúng luật) và hơn thế (cho bõ hờn).

Hai, vì là nơi gặp gỡ, tương tác giữa ánh hồi quang từ quá khứ và những ánh xạ của tập quán cuộc sống đương đại, biểu tượng sẽ tạo nên dải quang phổ lung linh hấp dẫn có độ tán sắc ánh sáng ý nghĩa văn hóa rất rộng. Vì vậy biểu tượng ngày một đa nghĩa, càng xa xưa càng khó giải mã. Hiểu vậy, hành động của Tấm đậm dấu vết của “văn minh nguyên thủy”. Đây lại là một “đặc ân” của Tấm “ban” cho mẹ Cám “được ăn thịt con” để “lưu giữ con trong lòng” (?).

Xét theo tín ngưỡng cổ xưa, đó là một hành động “nhân văn” (!?). Mẹ Cám ăn mắm khen “ngon”. Con quạ nghe thấy liền “nói mỉa”: “Ngon gì mà ngon/ Mẹ ăn thịt con/ Có còn xin miếng”. Rất có thể chi tiết cuối truyện này do người thời gần hoặc đã ở thời văn minh thêm vào. Sự bổ sung đã kéo câu chuyện về gần với thời hiện tại nên cảm giác về sự “dã man” càng tăng thêm.

Không nên đọc cổ tích bằng sự “khôn ngoan” của người hiện đại. Xin được tiếp thu các ý kiến phản biện!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).