Có hai bài thơ "Trấn thủ lưu đồn"?

Chắc nhiều bạn đọc còn nhớ bài thơ "Trấn thủ lưu đồn" - một tác phẩm thơ khuyết danh có trong chương trình Văn học trích giảng cấp III (những năm 60 -70 của thế kỷ trước ở miền Bắc và các trường ở miền Nam trước năm 1975). Trước đó nữa, bài thơ được in trong Quốc văn giáo khoa thư, chương trình giáo dục của nhà nước bảo hộ thời Pháp thuộc:

Ba năm trấn thủ lưu đồn
Ngày thì canh điếm, tối dồn việc quan
Chém tre đẵn gỗ trên ngàn
Hữu thân, hữu khổ phàn nàn cùng ai
Miệng ăn măng trúc, măng mai
Những giang cùng nứa lấy ai bạn cùng
Nước giếng trong con cá nó vẫy vùng.

(từ đây xin gọi bản này là bản A)

Trong dân gian không thiếu gì các bà mẹ ru con bằng bài thơ này, kèm thêm mấy câu mở đầu:

Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa...

Bài thơ được bình giảng đây là nỗi buồn thảm của anh lính thú chia tay gia đình vợ con để đi đồn trú ở vùng biên viễn với kỳ hạn ba năm. Trong thời gian ấy, biết bao nhiêu điều bất ưng, tai họa đang chờ đợi, rình rập anh ta. Nào là ma thiêng nước độc, lam sơn chướng khí... Nào là hùm beo rắn rết, giặc giã... Nào là lao dịch (chém tre, đẵn gỗ, canh điếm, việc quan...). Không biết có còn sống mà trở về được nữa hay không. Vì thế mà cả kẻ ở lẫn người đi đều "...nước mắt như mưa", chia tay trong tiếng trống ngũ liên giục giã. Câu thơ cuối cùng "Nước giếng trong con cá nó vẫy vùng" được cho là khát vọng tự do của những người lính thú...

Bài thơ học thế biết thế, chứ ngoài ra nào mấy ai được biết gì hơn? Kể cả các thầy cô giáo lên lớp giảng cho học sinh cũng chỉ phân tích về nội dung thôi. Văn học dân gian truyền miệng mà.

Giữa năm 2010, tôi có một chuyến điền dã về thôn Lưu Đồn, xã Thụy Hồng, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.

Sau khi hoàn thành chương trình làm việc, trong lúc chờ đợi anh chị em tập trung đủ để lên xe về Hà Nội, tôi lang thang, tản bộ quanh khu vực đình làng. Thấy có một "cụ Rùa" đắp bằng xi măng, cõng trên lưng một tấm bia đá lớn, đặt ở bên trái sân đình, tôi tò mò đến xem.

Chữ Nho tôi biết không nhiều, chỉ lõm bõm được dăm ba chữ. Đọc đến phần dịch ra chữ Quốc ngữ, tôi ngỡ ngàng vì đây chính là bài "Trấn thủ lưu đồn" vừa nói ở trên, chỉ khác nhau ở câu đầu tiên:

Bài kia là "Ba năm trấn thủ lưu đồn". Bài này là "Ba mươi năm trấn thủ Lưu Đồn".

Đang băn khoăn suy nghĩ, định tìm người hỏi thì có một cụ già chừng trên dưới tám mươi tuổi đi qua. Tôi lễ phép chào cụ và hỏi xem cụ có thể giúp tôi đọc phần chữ Nho kia không.

Cụ gật đầu, chậm rãi chỉ vào từng dòng, từng chữ đọc cho tôi ghi:

Tam thập niên trấn thủ Lưu Đồn (cụ còn nhắc cả hai chữ Lưu Đồn viết hoa):

Nhật tuần điếm, dạ hành sự quan
Trảm trúc, cứ mộc thượng lâm
Hữu thân, hữu khổ bình đàm đồng ai
Khẩu thực duẩn trúc, duẩn mai
Chư mai, chư trúc dĩ ai hữu bằng
Thủy tỉnh trạm ngư đắc cung thân thượng hạ hoành.

Bài dịch ra chữ Quốc ngữ, khắc ở phần dưới tấm bia là giống y chang bài thơ mà tôi thuộc lòng từ hồi còn đi học (chỉ khác mấy chữ "ba mươi năm" như đã nói ở trên. Xin gọi bản này là bản B).

Đang định khơi gợi để hỏi cụ thêm nhiều điều nữa thì tiếng còi xe giục giã. Tôi đành phải chia tay cụ, lên xe với những ngổn ngang suy nghĩ:

- Tại sao bài thơ về anh lính thú đồn trú ở vùng biên ải xa xôi lại có mặt ở giữa vùng đồng bằng ven biển này, mà còn được tạc vào bia đá bằng chữ Nho, để ở sân một ngôi đình đã được xếp hạng Di tích Lịch sử Quốc gia, rất tôn nghiêm, thờ bốn vị Đại vương Thượng đẳng thần gồm có Thành hoàng làng và ba vị quan thời Trần, có công lớn trong ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông?

- Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, khí thế của dân ta nói chung và trai tráng nói riêng sôi nổi lắm, hào hùng lắm, chứ đâu lại có cái tâm trạng u uất, buồn thảm như anh lính thú kia?

- Tại sao lại là ba mươi năm? Ai đi lính suốt ba mươi năm được? Và nếu người nào đó "theo đuổi binh nghiệp" suốt cả cuộc đời như vậy chắc phải là "sĩ quan chuyên nghiệp" (như cách nói bây giờ) và hẳn phải làm quan to lắm? Nếu đã làm quan đến mức "to lắm" tại sao lại có tâm trạng buồn thảm, lại có khát vọng tự do đến thế (vẫn là những hiểu biết đã được học trước kia)?

Những suy nghĩ này đeo đẳng tôi.

Đầu xuân Tân Mão 2011, nhân đi cùng Đoàn nghệ thuật Hoa Tràng An thuộc Trung tâm Văn hóa người cao tuổi Việt Nam về phục vụ bà con xã Thụy Hồng, tôi đã có dịp tìm hiểu thêm về vấn đề trên.

Tìm gặp lại cụ già hôm trước, được biết cụ tên là Nguyễn Duy Cuông, nhà giáo về hưu đã lâu. Cụ Cuông rất giỏi chữ Nho.

Khi hỏi về bài thơ trên bia đá ở sân đình, cụ cho biết:

Đây là bài thơ được chép nguyên văn từ trong Thần phả của làng có tên là "Thần phả ký Lưu Đồn".

Người khởi ghi "Thần phả" này là Quốc sư - Phó sư - Tướng quân Nguyễn Phúc Hiền, con út của Trưởng binh Long thành - Phò mã Nguyễn Liêu công tự Trung Chính và Công chúa Quỳnh Hoa thời nhà Trần.

Trưởng binh Long thành - Phò mã Nguyễn Liêu công và Công chúa Quỳnh Hoa sinh hạ được bảy người con trai, sau này đều là những Tướng quân tài ba của nhà Trần, nổi tiếng nhất là Tướng quân Nguyễn Khoái, Nguyễn Địa Nô...

Tướng quân Nguyễn Phúc Hiền là người văn võ toàn tài. Trong thời gian kháng chiến chống giặc Nguyên - Mông lần thứ hai, lần thứ ba, ông chỉ huy đội Long binh, Hổ binh coi bốn tiền đồn để bảo vệ căn cứ Lưu Đồn, đảm bảo an ninh cho triều đình và bộ máy chỉ đạo kháng chiến. Sau chiến thắng quân Nguyên lần thứ ba, ông được cử làm Phó sứ trong đoàn sứ bộ đi giao hòa với nhà Nguyên. Ông được phong Quốc sư. Sau này, khi Trần Nhân Tông từ bỏ ngôi Vua, về tu ở chùa Yên Tử, ông trụ trì và tu ở chùa Nam Triều tự Lưu Đồn cho đến lúc mất. Ông không lập gia đình.

Tướng quân Nguyễn Phúc Hiền bắt đầu viết "Thần phả ký Lưu Đồn" và "Gia phả dòng họ Nguyễn Duy" từ năm 1258 là năm ông cùng cha và Tướng quân Dương Mãnh Đạt vâng mệnh triều đình về xây dựng ấp Vạn An (phủ Thiên Trường) thành căn cứ thủ hiểm giữ nước. Từ đó ấp Vạn An được đổi tên thành Lưu Đồn.

"Thần phả ký Lưu Đồn" có thể coi là cuốn sử viết về ba cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông. Trong này Tướng quân Nguyễn Phúc Hiền ghi chép tỉ mỉ những sự kiện, sự việc diễn ra trong ba cuộc kháng chiến, về các vị tướng, các trận đánh...

Là người đầu tiên viết "Thần phả ký Lưu Đồn", trong đó có bài thơ này, vậy phải chăng Nguyễn Phúc Hiền là tác giả bài thơ "Trấn thủ Lưu Đồn" (bản B)?

Ta thử phân tích, xem xét trên một vài phương diện.

1. Về hai chữ "lưu đồn"

Từ "lưu đồn" (trong bản A) hẳn là từ ghép rút gọn của cụm từ "lưu quân đồn trú". Anh lính thú từ biệt vợ con, gia đình, quê hương lên đóng quân ở một cái đồn nào đó trên vùng biên ải với niên hạn ba năm (như kiểu nghĩa vụ bây giờ). Nói cho hay, cho lãng mạn, cho văn vẻ một chút thì gọi là trấn thủ lưu đồn.

Từ "Lưu Đồn" của bài thơ trong "Thần phả ký Lưu Đồn" (bản B) thì khác.

Như trên đã nói, khi đưa quân về xây dựng ấp Vạn An thành căn cứ thủ hiểm, triều đình đã đổi tên Vạn An thành Lưu Đồn. Căn cứ được gọi là "Cung Trấn Vương dã ngoại Lưu Đồn".

Trong số các câu đối thờ ở Nam Triều tự có câu:

Kiếp Bạc hữu sơn giai kiếm khí
Lưu Đồn cứ địa thủ cơ đồ.

Hoặc bài thơ Trần Nhân Tông viết khi từ bỏ ngôi vua về tu ở chùa Yên Tử sau chiến thắng quân Nguyên Mông lần thứ ba cũng có câu: "Tôi nay trấn thủ Lưu Đồn/ Quy đầu Phật cảnh tu chùa Hội Long...". Các văn cảnh nêu trên cho thấy "Lưu Đồn" là danh từ riêng, tên địa danh, chứ không phải là động từ như ở bản A, mặc dù cách viết của chữ Nho không phân biệt chữ viết hoa với chữ viết thường.

2. "Ba năm" hay "ba mươi năm":

"Ba năm trấn thủ lưu đồn" (bản A) là niên hạn đồn trú trên biên ải của một anh lính thú (như lời các thầy cô trước đây vẫn giảng).

"Ba mươi năm trấn thủ Lưu Đồn" (bản B) là lời tự bạch của một chủ thể. Chủ thể này đã gắn liền sự nghiệp của mình ở Lưu Đồn với thời gian là ba mươi năm (điều này ứng với các số liệu về cuộc đời của Nguyễn Phúc Hiền).

Vậy, liệu đã có thể có đủ căn cứ để nói Nguyễn Phúc Hiền là tác giả bài "Trấn thủ Lưu Đồn" (bản B)?

Vấn đề là ở chỗ hai bài thơ "giống nhau về nội dung, câu chữ một cách kỳ lạ" cứ như là cùng một khuôn vậy. Sự khác nhau vài chi tiết nhỏ ở câu thứ tư không quan trọng, có thể chấp nhận được, vì đấy chỉ là cách dùng từ trong lúc dịch từ chữ Nho ra chữ Quốc ngữ. Duy chỉ có một chỗ khác nhau nhưng lại là cái khác nhau lớn nhất, cơ bản nhất. Đó là "Ba năm..." và "Ba mươi năm...".

Nếu hai bản "cùng một khuôn" thì bản nào là "bản chính", bản nào là "dị bản"? Bản nào có trước, bản nào có sau?

Có thể xảy ra một tình huống giả định: Chính Nguyễn Phúc Hiền cho phổ biến bài này để giáo dục, động viên, nhắc nhở quân, dân về thời kỳ oanh liệt, gian khổ vừa qua. Quá trình lưu truyền trong dân gian, bài thơ bị "tam sao thất bản", để rồi xảy ra điều như tình huống đã nêu trên. Vì thế, từ một bài thơ chữ Nho, không rõ thể thơ, đã được cắt gọt dần theo thể lục bát cho dễ đọc, dễ nhớ. Phải chăng đây cũng là một cơ sở để nói "Ba mươi năm..." có trước bài "Ba năm..."?

Nếu bài "Trấn thủ Lưu Đồn" (bản B) của Nguyễn Phúc Hiền là bài thơ phản ánh mặt nào đó của cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông bằng hình tượng văn học thì ta cần phải có cách nhìn khác, cách hiểu khác, cách lý giải khác cho nội dung bài thơ chứ không thể giữ cách nhìn, cách hiểu, cách lý giải vốn có như đối với bài "Trấn thủ lưu đồn" (bản A khuyết danh) về thân phận anh lính thú được.

Việc này xin nhường lại các nhà giáo, các nhà bình giảng, nghiên cứu văn học, nghiên cứu lịch sử

Lê Đình Lai

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).