Cô đặc và luễnh loãng

Nếu có một trường phái văn chương căn cứ trên mật độ ý nghĩa của tác phẩm thì ta có thể chia ra làm hai dạng: văn chương cô đặc và văn chương luễnh loãng.

Văn chương cô đặc, xưa nay có nhiều, ví dụ như thơ Đường. Nhà thơ Thanh Tịnh đã từng nói: “Cơm nhiều mà máu ít, dâu nhiều mà tơ ít, ấy là thơ Đường”. Nghĩa là muốn nhấn mạnh sự cô đọng hàm súc của nghệ thuật, có khi chỉ vài chữ, vài câu mà ý nghĩa viết ra đến mấy chục trang giấy vẫn chưa hết.

Từ ngữ được chắt lọc, tinh luyện công phu, không thể bỏ đi từ nào và cũng khó thêm vào những từ khác. Đó là thứ văn chương cô đặc như keo, thả vào nước là tỏa ra nhuốm màu một khối. Thể thơ Haiku của Nhật cũng vậy, chỉ có vài câu mà ở những bài xuất sắc, ý thơ tỏa ra mênh mông ở sự liên tưởng và dư âm.

Ngoài cái khuôn khổ về thể loại buộc người viết phải tuân theo nguyên tắc kiệm lời tối đa thì sự rèn luyện về nghệ thuật, ý tưởng và suy ngẫm đóng vai trò quyết định trong chất lượng tác phẩm. Lời thơ đã hết từ lâu mà ý thơ và trường liên tưởng vẫn mở ra một khoảng vời vợi, mênh mang.

Đây là bài thơ “Tĩnh dạ tư” (Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh) của Lý Bạch:

Đầu giường ánh trăng rọi,
Mặt đất như phủ sương.
Ngẩng đầu nhìn trăng sáng,
Cúi đầu nhớ cố hương.

(Bản dịch của Nam Trân)

Chỉ đọc chậm và suy nghĩ một chút đã thấy ngay bài thơ xứng đáng là kiệt tác thơ Đường với sự cô đọng và hàm súc rất cao, chỉ có mấy chục chữ mà nói được rất nhiều điều.

Thế giới văn xuôi, cũng có những bậc thầy mẫu mực về cô đặc. Ta có thể kể tên J. Borges. Borges tin rằng một truyện ngắn có thể không thừa một dấu phẩy, ví dụ như truyện của Kipling. Chính vì quan niệm như vậy nên Borges không/không thể viết tiểu thuyết vì ông muốn kiểm soát từng chữ một, từng dấu phẩy. Borges tự thú nhận rằng trong tiểu thuyết ông bị choáng ngợp bởi không gian và quá nhiều nhân vật.

Nhà văn Nguyễn Công Hoan và nhà văn J. Borges.
Nhà văn Nguyễn Công Hoan và nhà văn J. Borges.

Cũng vì quan niệm như vậy nên văn chương của Borges rất tinh luyện về từ ngữ và ý tưởng cùng một dung lượng vừa phải. Vì sự công phu nghề nghiệp như vậy nên Borges là một trong những nhân vật hiếm hoi khi tác phẩm vừa được công bố đã được xếp ngay vào hàng kinh điển.

Chekhov cũng có thể coi như một ví dụ tiêu biểu của trường phái cô đọng, các truyện của ông cơ bản đều ngắn nhưng ý nghĩa của chúng lại rộng mở, giống như một phiên bản ngụ ngôn về triết lí nhân sinh và muôn mặt đời sống xã hội.

Các nhà văn Việt cũng nhiều người là những ví dụ ở cả hai trường phái, ví dụ như các truyện ngắn của Nam Cao, Vũ Công Hoan khá cô đọng và dồn nén, hầu như các tình tiết, ý nghĩa đều rất tập trung để phục vụ cho ý tưởng của câu chuyện, ít chi tiết rườm. Một người có kiểu văn lòng thòng là Lê Lựu, nhiều người cho rằng văn của Lê Lựu rậm rạp, nhiều ý, nhiều từ, thậm chí “phạt” đi một mảng cũng không ảnh hưởng mấy tới diễn tiến và nội dung mạch truyện.

Một cây bút lão thành có nhiều tác phẩm xuất sắc gần đây như Nguyễn Xuân Khánh tôi cũng thấy đôi lúc ông viết quá dài và thừa mứa chữ nghĩa. Những cuốn như “Đội gạo lên chùa” hay “Mẫu thượng ngàn” đều gần ngàn trang in. Tất nhiên với mỗi giai đoạn sẽ có những cách thức và ý tưởng khác nhau nhưng tôi thích Nguyễn Xuân Khánh ở giai đoạn trước với những “Miền hoang tưởng” và “Chuyện ngõ nghèo” với sự cô đọng và phiêu lưu nhiều hơn.

Tất nhiên nói thế không có nghĩa là viết ngắn, viết gọn sẽ hay hơn viết dài, viết rườm. Dostoevsky thường viết rất dài và nhiều trữ tình ngoại đề, khi một tuyến truyện đang phát triển theo một hướng, ông sẵn sàng dừng phắt lại, phát triển truyện theo một hướng khác dài hàng trăm trang rồi mới đủng đỉnh quay lại mạch ban đầu. “Anh em nhà Karamazov” là một ví dụ tiêu biểu, ở kiệt tác lớn nhất của Dostoevsky này, người đọc hiện đại phải hết sức kiên nhẫn để theo dõi các mạch truyện xen ngang.

Tôi mạnh dạn mà nói rằng, nếu bây giờ có một người viết y như kiểu của Dostoevsky, dài, rườm rà và chen ngang dọc như thế thì việc chinh phục độc giả là rất khó khăn. Cái thời của những tác phẩm kì vĩ mang quá nhiều tầng lớp có vẻ đã qua rồi. Bây giờ, liệu chúng ta có đủ thời gian và lòng kiên nhẫn để nhấm nháp những tác phẩm dày hàng ngàn trang pha trộn rất nhiều những pha ngang dọc của các nhà văn hiện đại nữa không?

Nói như thế, không có nghĩa rồi phản bác kiểu văn rậm rạp nhiều chữ, nhiều ý đan xen, văn chương không có một hình mẫu cố định nào buộc người viết phải tuân theo. Nếu có một trường phái nào đó thì đó chỉ là các chiều hướng được ưa thích hoặc phù hợp với thời đại hoặc tâm thế bạn đọc. Ngày trước con người ít bận rộn và hạn chế phương tiện giải trí nên người ta sẵn sàng chinh phục những cuốn tiểu thuyết dày hoặc nhiều bộ.

Bây giờ xu hướng ngắn gọn có vẻ chiếm ưu thế để tiết kiệm thời gian, công sức và đa dạng các loại hình giải trí. Rất nhiều bạn bè của tôi thường nói rằng sau khi đọc xong những pho tiểu thuyết dày họ thường mở một tiệc nhỏ để ăn mừng, bởi vì trong xã hội ai cũng gấp gáp vội vã thế này, chinh phục được một pho tiểu thuyết ngàn trang chẳng phải là một kì tích nho nhỏ đó sao?

Nhưng nói đi thì phải nói lại, những bộ tiểu thuyết dày cộm nhiều tập hấp dẫn vẫn được công chúng săn đón và sẵn sàng dành thời gian đọc chúng. Ví như bộ truyện “Harry Porter” của K. Rowling hay “Trò chơi vương quyền” của R.Martin hoặc các tiểu thuyết của Dan Brown bán rất chạy, khi dựng thành phim vẫn thu hút rất đông công chúng. Và ngay cả những cuốn tiểu thuyết dày gần ngàn trang của Nguyễn Xuân Khánh như “Mẫu thượng ngàn”, “Đội gạo lên chùa” vẫn được tái bản nhiều lần và giành được sự yêu mến của bạn đọc.

Cũng phải nói thêm một điều nữa, ngắn không nhất thiết đồng nghĩa với súc tích hay cô đọng. Có nhiều tác phẩm rất ngắn mà tính cô đọng rất yếu. Câu chữ rườm rà, loãng nhạt, lặp lại, ý nghĩa cũng mỏng manh, hạn hẹp, thậm chí tên tiêu đề tác phẩm, ý tưởng quá rộng rãi so với dung lượng tác phẩm. Y như một gã lớn tồng ngồng vẫn mặc bộ quần áo của trẻ con, nhìn kĩ thì thấy hở chỗ này, thiếu chỗ kia mà vẫn muốn ra bộ đã trưởng thành.

Cô đặc là sự dồn nén câu chữ và ý tưởng. Từ ngữ, chi tiết nào cũng được mang một nhiệm vụ, thông điệp nhất định, kể cả các dấu câu cũng dự phần vào quá trình đó. Cả tác phẩm là một kết cấu chặt chẽ và tinh luyện, không có từ thừa, ý thừa, các dấu câu cũng được đặt ở những vị trí rất chuẩn xác hoặc mang ý đồ riêng, tác phẩm hướng đến sự toàn bích ở từng chi tiết nhỏ.

Nhưng làm thế nào biết được tác phẩm có tính cô đặc hay loãng nhạt. Cách thức test chúng rất đơn giản. Nếu cắt đi cả đoạn hoặc vài câu mà tổng thể tác phẩm không suy chuyển hoặc không giảm hấp dẫn chút nào thì có thể tác phẩm đó đang ở trạng thái dư thừa, luễnh loãng. Còn khi cẳt bỏ một đoạn hoặc vài câu thậm chí chỉ một từ, lập tức tác phẩm bị xộc xệch, thiếu hoàn thiện, chuyển sang một hướng khác hoặc giảm hấp dẫn thì báo hiệu nó đang ở trạng thái cô đặc.

Những tác phẩm dày dặn câu chữ cũng có thể cũng có tính chất cô đọng khi người ta công phu và tâm huyết làm nó. Nhân việc này tôi lại nhớ nhân vật Lã Bất Vi nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa đã nuôi hàng nghìn môn khách trong nhà, toàn là những người tài giỏi trong thiên hạ rồi yêu cầu soạn ra bộ “Lã thị Xuân Thu” thật hoàn hảo. Lã Bất Vi cho công bố bộ sách đó ở ngoài cổng thành và tuyên bố sẽ thưởng ngàn vàng cho bất cứ ai thay đổi được một từ nào trong bộ sách.

Rốt cục là không ai thay đổi nổi một từ trong bộ sách hơn hai mươi vạn chữ, một sự hoàn hảo hiếm có. Nhưng đứng ở một điểm nhìn của một người hậu thế đầy tính hoài nghi, tôi vẫn đưa ra hai giả thuyết. Một là bộ sách ấy hoàn mĩ đến tuyệt độ, hai là thiên hạ sợ oai phong trùm thiên hạ của Lã Bất Vi mà không ai dám thò bút sửa một từ nào!

Nhưng cô đặc hay luễnh loãng cũng là đặc tính riêng của từng người viết văn. Có người viết nắn nót từng từ, từng câu, một ngày viết được vài ba đoạn đã là ưng ý lắm rồi, người khác thì tuôn ào ào như nước chảy, ngày được mấy chục trang. Sự dồn nén hay thả rông tùy thuộc vào mỗi tác phẩm, không phải thứ nào cũng giống nhau, khi thì cần thật cô đọng hàm súc, khi thì có thể nới tay một chút. Nhưng nói như thế tôi cũng không đồng tình với sự ba phải, thể nào cũng được.

Văn chương vốn là thứ nghệ thuật sự đòi hỏi rèn luyện và công phu rất định, những thứ quá dễ dãi, nhạt nhẽo khó trở thành những sản phẩm có chất lượng hoặc có sức sống lâu bền. Nếu có thể dự đoán một một xu hướng phát triển thì tôi tin rằng văn chương cô đọng và hàm súc sẽ ngày càng thắng thế, vì nó phù hợp với xu hướng thời đại và nhu cầu của con người mong muốn sự tinh xảo hoàn mĩ và cũng có ít thời gian nữa!

Uông Triều

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).