Chuyện về người thư ký Việt của Tổng Bí thư Lào: Trên chiến trường Lào - Việt

Đoàn võ trang công tác Liên khu 3 phần lớn là đoàn quân Tây Tiến bất hủ. Trong đó có một trung đội người Lào lấy phiên hiệu là DIKOP, gồm các tiểu đội là D, I, K, O, P về sau có thêm một J. Đội O, Tiểu đội trưởng là ông Thâu Ma, trong đội này có cả người Việt và người Lào. Họ có nhiệm vụ xây dựng cơ sở từ thượng du Thanh Hóa sang Sầm Nưa theo sông Luồng để đi lên Mường Xuôi…

Vào vùng địch hậu

Năm 1948, trung đội của ông phục kích chặn viện binh địch từ Mường Xia xuống chi viện cho đồn Poọng Nưa. Cùng phối hợp với đơn vị ông có một trung đội khác tăng viện. Chờ một ngày không thấy địch tới, đơn vị bạn rút đi, đơn vị ông được lệnh ở lại chờ địch.

Sáng hôm sau, địch kéo lên. Ông ra lệnh giật mìn chôn giữa đường và ném lựu đạn. Địch tháo lui. Tiểu đội trưởng người dân tộc Thái tên là Hà Văn Páo xung phong xuống trận địa lấy được mấy khẩu súng. Sau đó, địch quay lại bao vây đơn vị ông. Ông quyết định cho anh em rút lên một quả đồi khác rồi cử một nhóm dùng súng tiểu liên luồn trở lại sau lưng địch, đánh vào. Địch bỏ chạy qua suối, cùng lúc đó Ban chỉ huy cho một đại đội xuống tăng viện. Địch tháo chạy tán loạn. Sau trận đó, Đào Văn Tiến được thăng lên Trung đội trưởng. Ngày 14/12/1948, chàng chỉ huy Đào Văn Tiến được kết nạp Đảng.

Thời gian sau, địch nống ra một đồn mới với ý đồ sẽ cắt đứt hậu phương của Đại đội 72. Đó là đồn Cổ Lũng thuộc huyện Bá Thước, Thanh Hóa do tay đạo Thắng và hai phìa Điền Lự làm chỉ huy. Đạo Thắng và hai phìa Điền Lự trước đây từng làm Tổng chỉ huy 5 châu của Thanh Hóa, sau đó bị ta đánh bỏ chạy lên Hòa Bình lập xứ Mường tự trị. Khi Pháp lập đồn Cổ Lũng, chúng trở về vào sống trong đồn Cổ Lũng. Phạm Quang Đăng, một người Thái, làm đồn phó đồn này. Chúng liên hệ với đồn Vạn Mai nhằm khóa đuôi, chặn, cô lập đơn vị ông để dần tiêu diệt.

Ông Đào Văn Tiến.

Ông Đào Văn Tiến.

Nắm được ý đồ của địch, cấp trên đã hai lần tổ chức đánh đồn Cổ Lũng nhưng không thành. Sau đó đơn vị ông cùng với một đơn vị 78 là bộ đội địa phương được lệnh tiêu diệt đồn này. Ông đề nghị Đại đội 78 ở lại giữ Cành Nành, Đại đội 72 vào vùng địch hậu sau lưng địch ở đồn Cổ Lũng để quấy rối, tiêu hao địch. Cấp trên chấp thuận, đơn vị ông vào ba bản của vùng Lũng Cang, một trung đội khác ở phía sau hỗ trợ. Ông cho người liên hệ với bản Dộc, bản Xím, bản Bốn và bản Bố thuộc huyện Bá Thước, Thanh Hóa.

Khi nghe tin bộ đội sẽ vào bản Bốn, địch cho ném bom na-pan thiêu rụi cả bản. Địch phản tuyên truyền, nói do bộ đội đến nên bản mới bị bom (!). Trước luận điệu đó, ông Tiến làm công tác dân vận và dặn anh em cho gạo, cho muối và ở ngay trong nhà của các già làng, trưởng bản để vận động tuyên truyền họ ủng hộ, giúp đỡ bộ đội. Để tránh địch phát hiện và đánh phá, mỗi đêm họ chuyển chỗ ở nhiều lần. Sau đó, ông cho tổ chức đội võ trang tuyên truyền, tổ chức các đội du kích, tổ phụ nữ… vận động dân làng ra rừng sản xuất trồng sắn, trồng lúa... liên lạc bí mật với bộ đội.

Ban chỉ huy của đơn vị ông đóng trong rừng ở bản Dộc, bản này giáp xã Phú Lễ của huyện Quan Hóa, Thanh Hóa.

Trong thời kỳ hoạt động ở trong rừng ở bản Dộc, ông Tiến và đồng đội suýt bị địch đánh úp, tiêu diệt, nếu không nhờ một người phụ nữ. Ông Tiến kể: "Một hôm, một phụ nữ người Thái, quen gọi là chị Hai là con gái một già làng, vừa đi hầu cho lính ở đồn về liền chạy vội vào lán của ban chỉ huy báo tin có giặc đến. Tôi hỏi làm sao chị biết? Chị nói: Các anh có nghe thấy tiếng gì không? Tôi nói đó là tiếng vượn hú mà. Chị nói: Không phải tiếng vượn đâu, bọn lính giả tiếng vượn để báo tin cho nhau, chúng bao vây để bắt các anh đó. Nghe vậy, tôi liền cho anh em chuẩn bị chiến đấu. 5 phút sau, địch bắn vào, chị Hai bị trúng đạn và chết ngay tại chỗ. Chúng tôi phải di chuyển vào rừng. Địch đưa dân bản đi theo len vào đội hình nên chúng tôi không dám bắn chúng, sợ trúng dân bản.  Chúng tôi phục kích, chờ cho dân bản qua hết mới nổ súng. Sau trận tập kích đó, chúng tôi cảnh giác hơn, luôn phải lưu động di chuyển lán chỉ huy, chôn mìn giả để đánh lạc hướng địch…".

Mưu trí giữa trận tiền

Khi chiến dịch Hòa Bình nổ ra, địch co cụm trong đồn Cổ Lũng. Đơn vị ông được lệnh phối hợp với đơn vị chủ lực đánh đồn Cổ Lũng. Trong thời gian đơn vị chủ lực chưa lên, ông đề nghị nên tổ chức binh vận. Bởi theo ông, nếu đánh ngay, địch sẽ bỏ chạy lên Mộc Châu, Sơn La, ta khó truy bắt và di hại về sau. Cấp trên chấp thuận, ông tổ chức dùng tình báo, vận động anh em lính trong đồn theo cách mạng, cung cấp tin tức, tình hình của đồn cho cách mạng.

Lễ ký kết bàn giao công trình Nhà văn hóa Cay-xỏn Phôm-vi-hản sáng ngày 7/1/2014 cho nước bạn Lào.

Lễ ký kết bàn giao công trình Nhà văn hóa Cay-xỏn Phôm-vi-hản sáng ngày 7/1/2014 cho nước bạn Lào.

Thông qua họ, ông vận động Phó đồn Phạm Quang Đăng về theo cách mạng. Yêu cầu đặt ra là ông Đăng phải bắt được 3 tên Pháp trong đồn. "Sau đó, chúng tôi nhận được thư của ông Đăng hẹn gặp ở suối, mỗi bên đi 3 người không mang theo vũ khí.

Tại buổi gặp mặt, ông Đăng đưa ra 4 yêu cầu: Một là, sau khi hàng, xã Cổ Lũng, Lang Thành do lang đạo quản lý. Hai là, lực lượng của đồn thành quân đội quốc gia Việt Nam. Ba là, cán bộ chính quyền cũ được gia nhập vào ban chỉ huy hoặc Ủy ban 5 châu. Bốn là, cho phép đi lại tự do. Tôi hứa với ông Đăng là sẽ nghiên cứu, báo cáo lên trên và trả lời. Chúng tôi thỏa thuận hai ngày sau ông Đăng sẽ ra hàng. Tôi tính nếu không thấy dấu hiệu của Đăng ra hàng thì sẽ đánh đồn. Hai ngày sau, chúng tôi nghe ba tràng súng tiểu liên từ trong đồn vọng ra, nhưng không thấy ai ra. Chúng tôi chuẩn bị đánh địch thì thấy lính đồn đi ra ngoài. Mờ sáng thì ông Đăng ra báo cáo đã giết chết 3 tên Pháp vì không thể bắt sống được.

Hai ngày sau, chúng tôi lên tiếp quản đồn, thu được 180 khẩu súng và nhiều đạn dược, quân trang. Phạm Quang Đăng được tham gia vào Ủy ban 5 châu. Sau đó, các đồn kia địch cũng rút lui hết. Ngày 19/12/1949, vùng miền Tây Thanh Hóa được giải phóng", ông Tiến nhớ lại.

Sát cánh tình anh em

Trước đó, vào ngày 30/10/1949, đơn vị bộ đội tình nguyện được thành lập, hoạt động ở vùng thượng Lào gồm 3 phân khu A, B, C. Phân khu A là vùng Sầm Nưa, Phân khu B là Xiêng Khoảng, Phân khu C là Luông pha bang. Lực lượng này được thành lập nhằm giúp lực lượng kháng chiến Lào. Ông Tiến được phân công về Phân khu B nên phải trở vào Nghệ An rồi qua Lào hoạt động. Ông được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm hậu cần, ông Nguyễn Tài làm Chính ủy kiêm Trưởng phòng Biên chính (nghĩa là Chính sách biên giới) Liên khu 4. Ông Nguyễn Tài quê ở huyện Đô Lương, Nghệ An, từng đưa Bác Hồ đi hoạt động ở Lào, Thái Lan. Năm 1928, ông Tài tham gia Đảng Cộng sản Thái Lan.

Nhà văn hóa Cay-xỏn Phôm-vi-hản ở Lào.
Nhà văn hóa Cay-xỏn Phôm-vi-hản ở Lào.

Năm 1948, Lào chỉ có hai đội du kích. Một đội do ông Thâu Tu ở Noong Hét làm chỉ huy, toàn người Mông. Đội kia do ông Xiêng Xinh ở Sầm Nưa chỉ huy có 30 người. Đây là những nhóm du kích tự phát. Thời đó ở Lào có những tù trưởng theo Pháp, có tù trưởng không theo, cả hai phía đều tập hợp lực lượng để bảo vệ lãnh địa và quyền lợi. Khi Pháp quay trở lại, những nhóm người không theo Pháp đưa lực lượng của mình qua Việt Nam.

Ông Xiêng Xinh dẫn quân đi theo sông Nậm Nơn vào Việt Nam, ông Thâu Tu (có khi viết Thotou) theo sông Nậm Mô. Họ tập hợp ở vùng núi huyện Anh Sơn và huyện Con Cuông, Nghệ An. Tỉnh ủy Nghệ An cho người của hai huyện này cử cán bộ đến đón họ và tiếp quản lực lượng du kích này và nuôi họ. Trước đó, người Lào đã sang lẻ tẻ, nhưng đến năm 1948 thì sang với những tổ chức chính thức. Cán bộ ta vận động nhân dân nhường đất cho những người bạn Lào sinh sống. Họ phát rừng làm rẫy. Ta cử cán bộ vào huấn luyện họ về quân sự, tổ chức hai đội võ trang tuyên truyền số hiệu là 219, 210.

Đoàn võ trang công tác Liên khu 3 phần lớn là đoàn quân Tây Tiến bất hủ. Trong đó có một trung đội người Lào lấy phiên hiệu là DIKOP (tức đi kộp, tiếng Lào nghĩa là đi đánh), gồm các tiểu đội là D, I, K, O, P về sau có thêm một J. Đội O, Tiểu đội trưởng là ông Thâu Ma, trong đội này có cả người Việt và người Lào. Họ có nhiệm vụ xây dựng cơ sở từ thượng du Thanh Hóa sang Sầm Nưa theo sông Luồng để đi lên Mường Xuôi. Địa bàn trung đội Lào hoạt động cũng chính là địa bàn ông Đào Văn Tiến đang hoạt động. Sau 3 tháng hoạt động, ông Thâu Ma vào được nội địa nước Lào. Sau này, ông Thâu Ma làm Chủ tịch tỉnh Sầm Nưa.

Nhiệm vụ của họ lúc đó là tiễu phỉ Vàng Pao. Để tiễu phỉ hiệu quả, ông Tiến đề nghị nên thu phục phỉ bằng cách vận động người dân kêu gọi con em trở về. Lúc đó, giữa người dân Lào bình thường và phỉ, nếu nhìn bề ngoài không thể phân biệt được. Họ đều mặc đồ đen, mang cái bế (như cái gùi của người Êđê) sau lưng và khoác súng hỏa mai tự chế.

Do đó, nếu tiểu phỉ mà chỉ dùng quân sự thì có thể bắn nhầm, không hiệu quả mà có thể phản tác dụng. Vì thế, ông Tiến đề nghị biện pháp quân sự chỉ là hỗ trợ, dùng chính trị là chính, kinh tế làm đòn bẩy, tặng muối gạo cho dân. Phải tin dân, tôn trọng dân, tôn trọng phong tục tập quán của họ. Có khi đồ ôi cũng phải ăn, rồi để tóc dài, đóng khố, phơi nắng cho cháy da để dễ hòa đồng với dân. Người Lào ăn đồ ôi không phải vì phong tục mà vì họ thiếu muối để bảo quản, chế biến thực phẩm nên lâu ngày thực phẩm bị hư. Còn người Mông ở Lào có tục "ăn cơm với người chết". Nhà nào có người chết họ không chôn hay hỏa táng ngay mà để dựa nơi góc bếp một thời gian. Khi ăn xôi (người lào chủ yếu ăn xôi) thì cầm nắm xôi đút cho người chết, sau đó mới ăn nắm xôi… Nhờ biện pháp tuyên truyền, thu phục đó mà thắng một phần.

Không chỉ với việc thu phục phỉ, mà trong hoạt động cách mạng, việc biết, tôn trọng và tuân theo phong tục, tập quán của người dân cũng mang lại hiệu quả. Nếu không biết phong tục để làm theo, thì dân không tin, không theo cách mạng. "Một lần có mấy anh em người Lào đến xin gạo của một gia đình người Lào. Đây là một bản khác với quê họ nên phong tục tập quán khác. Chúng tôi chờ mãi mới thấy anh em về, nhưng ai cũng đi tay không. Anh em nói là vào nhiều nhà xin gạo nhưng họ không cho.

Anh Trưởng ban Tuyên huấn của đơn vị là người Lào hỏi họ vì sao không xin được gì? Anh em nói cũng chào hỏi bình thường nhưng khi xin gạo thì không được. Anh Trưởng ban hỏi: Các anh có ôm con gái của chủ nhà không? Anh em nói không ôm. Anh Trưởng ban nói: Vậy là họ không cho là phải rồi. Anh giải thích, ở đây có tục ôm con gái gọi là sao cọt. Khách đến chơi nhà đầu tiên là phải ôm con gái chủ nhà, sau đó mới đến chào hỏi, chuyện trò với cha mẹ… Điều đó thể hiện sự tôn trọng với con gái họ và gia đình, vì con gái họ được khách quý mến. Ai đến chơi mà không ôm con gái họ, thì họ sẽ mang tiếng, con gái họ mất giá.

Đồng chí Trưởng ban Tuyên huấn nói xong thì nói để mình vô bản xin gạo cho, mấy anh đi theo nhưng chỉ đứng xa xa dưới sàn. Đến nơi, anh thấy cành lá cắm nơi cầu thang, dấu hiệu không muốn tiếp khách, nhưng vẫn đi lên cầu thang, bước lên sàn. Thấy cha mẹ và cô gái ngồi bên bếp lửa, mặt buồn bã, đồng chí Trưởng ban tuyên huấn mạnh dạn bước đến ôm cô gái thân mật. Cha mẹ cô thấy thế liền vui vẻ, nói chuyện và anh xin được gạo.

Phạm Huy Văn

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.